Chiều 15/1, tại trụ sở 193 Vĩnh Hưng - Hà Nội, Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương (Bộ Công Thương) đã tổ chức Diễn đàn khoa học về xúc tiến đầu tư và chuyển giao công nghệ trong lĩnh vực năng lượng, tập trung vào điện hạt nhân trong bối cảnh Việt Nam đang đối mặt nhiều thách thức về an ninh năng lượng và mục tiêu phát triển bền vững.
Trình bày tham luận tại diễn đàn, ông Lã Hồng Kỳ, đại diện Văn phòng Ban Chỉ đạo Nhà nước các dự án ngành năng lượng, đã phân tích rõ định hướng phát triển điện hạt nhân trong chiến lược năng lượng quốc gia giai đoạn mới.

Ông Lã Hồng Kỳ, đại diện Văn phòng Ban Chỉ đạo Nhà nước các dự án ngành năng lượng trình bày tham luận
Theo ông Lã Hồng Kỳ, Quyết định số 768/QĐ-TTg ngày 15/4/2025 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021- 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã xác định giải pháp tổng hòa nhằm bảo đảm an ninh năng lượng. Trong đó, Việt Nam tận dụng tối đa nguồn năng lượng trong nước, đẩy mạnh năng lượng tái tạo, kết hợp nhập khẩu điện, than, khí đốt ở tỷ trọng phù hợp và từng bước xây dựng nhà máy điện hạt nhân. Đây là giải pháp tối ưu nhằm đáp ứng nhu cầu tăng trưởng điện năng, giảm phát thải và bảo đảm phát triển bền vững.
Trên thế giới, xu thế phát triển điện hạt nhân đang bước vào giai đoạn phát triển mới: Tại các hội nghị thượng đỉnh về khí hậu gần đây (như COP28 và COP29), hơn 30 quốc gia (bao gồm Mỹ, Pháp, Nhật Bản, Hàn Quốc...) đã cam kết tăng gấp 3 lần công suất điện hạt nhân vào năm 2050 với mục tiêu đạt khoảng 1.200 GW công suất vào năm 2050 để thay thế dần điện than và điện khí.
Theo số liệu của Cơ quan năng lượng nguyên tử quốc tế (IAEA) đến cuối năm 2025, có 31 quốc gia vận hành nhà máy điện hạt nhân với 415 lò phản ứng đang hoạt động, với tổng công suất 375.980 MW. Bên cạnh đó, khoảng 15-17 quốc gia đang xây dựng các lò phản ứng mới với 63 lò đang thi công, tổng công suất 66.297 MW.
Ngoài ra, khoảng 30 quốc gia khác đang trong giai đoạn lập kế hoạch hoặc chuẩn bị khởi động chương trình điện hạt nhân, trong đó có Việt Nam với chủ trương tái khởi động điện hạt nhân.
Một xu thế nổi bật hiện nay là sự phát triển mạnh của lò phản ứng mô-đun nhỏ (SMR). Thay vì các nhà máy công suất lớn, thời gian xây dựng kéo dài, nhiều quốc gia chuyển sang SMR có công suất dưới 300 MW, có thể chế tạo hàng loạt tại nhà máy và lắp đặt nhanh tại địa điểm xây dựng. Công nghệ này giúp giảm chi phí đầu tư ban đầu, rút ngắn tiến độ và dự kiến sẽ đi vào vận hành thương mại từ cuối thập kỷ này.
Bên cạnh đó, nhu cầu điện tăng mạnh từ các trung tâm dữ liệu và trí tuệ nhân tạo, cùng xu hướng kéo dài tuổi thọ các lò phản ứng hiện hữu, đang tạo thêm động lực cho điện hạt nhân. Theo ông Lã Hồng Kỳ, những xu thế này mở ra cơ hội thuận lợi để Việt Nam lựa chọn công nghệ phù hợp với điều kiện tài chính và trình độ phát triển.
Về mục tiêu xúc tiến đầu tư và chuyển giao công nghệ, tham luận nhấn mạnh việc bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia là mục tiêu xuyên suốt. Cùng với đó, Việt Nam hướng tới tiếp thu và làm chủ công nghệ hạt nhân tiên tiến, phát triển công nghệ cao, thu hút nguồn vốn lớn từ các đối tác quốc tế, đồng thời đào tạo đội ngũ kỹ sư, chuyên gia vận hành và quản lý an toàn hạt nhân. Việc phát triển điện hạt nhân còn góp phần tạo việc làm, thúc đẩy công nghiệp phụ trợ, nâng cao trình độ công nghiệp hóa và đóng góp trực tiếp vào mục tiêu phát triển bền vững.
Theo tiêu chí của Quốc hội, công nghệ điện hạt nhân được lựa chọn phải bảo đảm an toàn cao, hiện đại, hiệu quả đầu tư và gắn chặt với an ninh năng lượng quốc gia và có kiểm chứng. Hiện nay, công nghệ lò phản ứng thế hệ III+ đang được xuất khẩu phổ biến, với mức độ an toàn rất cao và thời gian vận hành lên tới 60–80 năm. Công nghệ này đáp ứng các yêu cầu an toàn nghiêm ngặt sau sự cố Fukushima, kết hợp hài hòa các hệ thống an toàn chủ động và thụ động, hạn chế tối đa rủi ro trong mọi kịch bản sự cố.

Lò phản ứng AES 2006 (VVER-1200) thế hệ III+ của Nga
Lộ trình chuyển giao công nghệ điện hạt nhân được đề xuất theo bốn giai đoạn. Giai đoạn đầu tập trung chuyển giao năng lực vận hành và bảo trì, bảo đảm đội ngũ Việt Nam có thể vận hành nhà máy an toàn. Giai đoạn tiếp theo hướng tới nội địa hóa chuỗi cung ứng thiết bị phụ trợ. Giai đoạn ba tập trung vào công nghệ nhiên liệu và quản lý chất thải phóng xạ. Giai đoạn cuối là làm chủ thiết kế, cải tiến công nghệ và từng bước tham gia nghiên cứu, phát triển các dòng lò phản ứng thế hệ mới như SMR.
Mặc dù có nhiều ưu điểm, song việc phát triển điện hạt nhân còn gặp nhiều khó khăn, nhất là đối với quốc gia lần đầu tiên xây dựng nhà máy điện hạt nhân như: Cần có sự đồng thuận của công chúng và các quyết sách mạnh mẽ của Chính phủ; Thận trọng lựa chọn công nghệ tiên tiến, an toàn cao nhất và có tính kiểm chứng; Cần đảm bảo đầy đủ cơ sở hạ tầng, đặc biệt là văn bản quy phạm pháp luật và xây dựng phát triển đội ngũ chuyên gia về điện hạt nhân, cũng như văn hóa an toàn điện hạt nhân; Cần thời gian chuẩn bị dự án do công nghệ phức tạp; vốn đầu tư lớn (mặc dù chi phí nhiên liệu thấp), dẫn đến gặp khó khăn trong thu xếp vốn đầu tư.
Tại diễn đàn, các chuyên gia, nhà khoa học, cộng đồng doanh nghiệp đều nhất trí cho rằng dù còn nhiều thách thức, khó khăn nhưng với sự quan tâm cao của Đảng, Nhà nước, Quốc hội, sự chỉ đạo của Chính phủ và sự đồng thuận của xã hội, Việt Nam có đủ điều kiện để triển khai thành công các dự án điện hạt nhân đầu tiên. Việc xây dựng thành công các nhà máy điện hạt nhân Ninh Thuận 1 và Ninh Thuận 2 sẽ góp phần quan trọng bảo đảm an ninh năng lượng quốc gia, phục vụ phát triển bền vững và tạo dấu ấn mới trong kỷ nguyên phát triển của đất nước.
Các ý kiến trao đổi, thảo luận tại diễn đàn đều là cơ sở quan trọng để Viện Nghiên cứu Chiến lược Chính sách Công Thương thực hiện tốt vai trò tham mưu, đề xuất các cơ chế, chính sách phù hợp, phục vụ công tác hoạch định chính sách năng lượng trong giai đoạn tới./.
Đinh Thị Bích Liên
Phòng Thông tin và Truyền thông - VIOIT
Một số hình ảnh tại Diễn đàn:


