TIN TỨC

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Tin tức

Các giải pháp thúc đẩy ngành Công Thương tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát triển bền vững

Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu triển khai thực hiện nhiệm vụ ngành Công Thương năm 2022 trong điền kiện tình hình kinh tế thế giới với diễn biến phức tạp, khó lường, nguy cơ dịch bệnh Covid-19 vẫn còn nhiều tiềm ẩn, cuộc xung đột chiến tranh giữa Nga và Ukraina đã tạo nhiều cú sốc kinh tế, ảnh hưởng tiêu cực tới hoạt động sản xuất, tiêu thụ hàng hóa trên thị trường các nước, nguy cơ lạm phát tăng cao, nhất là nguồn cung xăng, dầu trên thế giới và trong nước còn nhiều biến động đúng vào thời điểm Việt Nam triển khai các biện pháp phục hồi kinh tế. Tuy vậy, ngành Công Thương tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã tích cực bám sát sự lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của Chính phủ, Bộ Công Thương, Tỉnh ủy, UBND tỉnh; cùng với sự chủ động phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng với các sở, ban, ngành và các địa phương trong việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp nhằm hỗ trợ, thúc đẩy các doanh nghiệp phát triển sản xuất - kinh doanh, bảo đảm lưu thông hàng hóa, cung ứng kịp thời hàng hóa thiết yếu, tăng cường hoạt động xuất - nhập khẩu … nên sau rất nhiều nỗ lực, kết thúc năm 2022, hoạt động ngành Công thương Tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận.

1. Sản xuất công nghiệp:

Từ đầu năm đến nay, các doanh nghiệp (DN) trên địa bàn tỉnh đã nhanh chóng khôi phục sản xuất, đáp ứng tiến độ đơn hàng đã ký kết. Bên cạnh đó, một số dự án công nghệ cao mới đi vào hoạt động, góp phần làm đa dạng và gia tăng sản lượng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ trên địa bàn tỉnh. Giá trị sản xuất công nghiệp trừ dầu khí (tính theo giá so sánh) cả năm 2022 đạt 346.627 tỷ đồng, tăng 10,47% (Nghị quyết tăng 9,82%); chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tăng 10,66% so với năm 2021. Quy mô GRDP ước năm 2022 là 390.293 tỷ đồng, GRDP bình quân đầu người là 331,1 triệu đồng/người/năm, tăng 23% so năm 2021. Nếu tính theo USD, quy mô GRDP là 16.488,2 triệu USD; GRDP bình quân đầu người là 13.988,5 USD/người/năm, tăng  20,37% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân quy mô GRDP và GRDP bình quân đầu người năm 2022 tăng cao so với cùng kỳ, chủ yếu là do sự tăng giá của sản phẩm dầu thô và khí đốt trên thị trường quốc tế. Công nghiệp tiếp tục là khu vực kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định ở mức cao và đóng góp lớn vào tăng trưởng GRDP, với tỷ trọng 52,21%, đóng góp 5,50 điểm phần trăm vào tăng trưởng GRDP.

Trong các sản phẩm công nghiệp chủ yếu của tỉnh, có 19 sản phẩm có mức tăng trưởng trên 10%, trong đó có một số sản phẩm có quy mô lớn, đóng góp lớn vào tăng trưởng công nghiệp như: Khí tự nhiên dạng khí; ure; Butan đã được hóa lỏng (LPG) tăng 25,33%; kính nổi và kính đã mài; xi măng Portland đen; điện... bên cạnh đó, IIP năm 2022 của một số ngành cấp 2 trong  ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cũng tăng cao so với cùng kỳ năm trước như:  Sản xuất đồ uống tăng 41,09%; sản xuất và chế biến thực phẩm tăng 27,3%; sản  xuất than cốc, sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 25,33%; dệt tăng 10,47%.  

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có 26 dự án mới đi vào hoạt động chính thức trong năm 2021, các dự án bước đầu đi vào hoạt động đã có đóng góp nhất định cho ngân sách tỉnh, góp phần chuyển dịch cơ cấu ngành kinh tế, tăng dần tỷ trọng ngành sản xuất công nghiệp, tiếp tục đóng góp mức tăng trưởng (khoảng 1.052,08 tỷ đồng) vào giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh trong năm 2022, giải quyết việc làm cho hơn 2.000 lao động địa phương. 

Những tập đoàn lớn về hóa chất, hóa dầu của thế giới và khu vực đã chọn Bà Rịa - Vũng Tàu làm nơi để mở rộng sản xuất, đầu tư, trong năm 2022 tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã có thêm 10 dự án sản xuất công nghiệp mới đưa vào hoạt động đóng góp khoảng 5.000 tỷ đồng, góp phần thúc đẩy tăng trưởng sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh, trừ dầu thô và khí đốt, điển hình là dự án Tổ hợp hóa dầu Long Sơn của Tập đoàn SCG (Thái Lan) có giá trị đầu tư lên đến 5 tỉ đô la Mỹ; Nhà máy sản xuất polypropylene (PP) và kho ngầm chứa LPG có giá trị 1,2 tỉ đô la Mỹ của Tập đoàn Hyosung (Hàn Quốc) đã đưa vào hoạt động thương mại thêm các hạng mục Nhà máy sản xuất Poly-Propylene 2 (PP5); Nhà máy sản xuất Propane DH/OL1); nhà máy sản xuất găng tay S&S...

Ngoài ra còn có 39 dự án dự kiến tăng thêm trong năm 2022 đóng góp khoảng 2.000 tỷ đồng vào giá trị sản xuất công nghiệp. Các dự án đi vào hoạt động với nhiều sản phẩm mới trong các lĩnh vực như linh kiện điện tử, vật liệu nhựa, sợi, bê tông chất lượng cao, tái tạo năng lượng… Các dự án này không chỉ giúp DN thay thế cho nguyên liệu nhập khẩu trước đây mà còn góp phần vào sự phát triển ngành công nghiệp hỗ trợ tại tỉnh. Trong số này có các dự án được đầu tư mở rộng như Dự án của công ty cổ phần Bao bì Đạm Phú Mỹ, dự án sản xuất và tiêu thụ các sản phẩm kính nổi của Công ty TNHH Công nghiệp Kính NSG Việt Nam, sản phẩm kính nổi siêu trắng của Công ty TNHH Kính nổi siêu trắng Phú Mỹ (PFG)... đã tham gia thị trường, góp phần làm tăng giá trị sản xuất công nghiệp của tỉnh thêm 11,78% so với cùng kỳ.

Bên cạnh đó, năm 2022, mặc dù kinh tế thế giới có nhiều biến động, hoạt động thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) bị ảnh hưởng, nhưng Bà Rịa - Vũng Tàu vẫn là điểm sáng trong thu hút FDI. Cuối tháng 11/2022, tỉnh đã trao giấy chứng nhận đầu tư và biên bản hợp tác đầu tư cho một loạt dự án FDI quy mô lớn. Trong đó, phải kể đến dự án đầu tư mở rộng giai đoạn II - Tổ hợp hóa dầu miền Nam của The Siam Cement Public Company Limited với tổng mức đầu tư 5,5 tỷ USD; dự án sản xuất gỗ công nghiệp cho ngành xây dựng lắp ghép theo công nghệ CLT và đóng tàu giải trí với tổng mức đầu tư 1,3 tỷ USD của Công ty Earth Vision… cả năm 2022 Bà Rịa - Vũng Tàu đã thu hút được 58 dự án với tổng vốn đầu tư trong và ngoài nước cấp mới và điều chỉnh tăng thêm năm 2022 (quy đổi) khoảng 2,07 tỷ USD, đạt 112,77% kế hoạch và tăng 0,43% so với năm 2021. Việc hàng tỷ USD vốn đầu tư đổ vào Bà Rịa - Vũng Tàu đã cho thấy rõ nét hiệu quả trong công tác thu hút đầu tư của tỉnh thời gian qua. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư), tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu hiện xếp thứ tư cả nước về thu hút vốn FDI, với tổng vốn đăng ký đến nay đạt gần 33 tỷ USD.

2. Hoạt động thương mại dịch vụ:

Tổng mức bán lẻ hàng hóa cả năm 2022 đạt 59.025 tỷ đồng, tăng 12,42% so với năm 2021 (Nghị quyết tăng 11,05%). Đóng góp vào mức tăng trưởng này do các yếu tố sau đây:

- Năm 2022, dịch bệnh Covid-19 cơ bản được kiểm soát tốt trong cộng đồng; nhân viên, người lao động tại các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích, tiểu thương kinh doanh tại các chợ, người giao hàng (shipper) đều được tiêm đủ từ 2 mũi vắc-xin ngừa Covid-19. Sức mua và tiêu thụ hàng hóa tăng mạnh do thu nhập người dân ổn định sau dịch, không còn hạn chế các hoạt động mua sắm bên ngoài, từ đó thúc đẩy việc mua hàng trực tiếp cũng như trực tuyến đều tăng cao so với năm 2021, kéo theo doanh thu các nhóm hàng tăng trưởng mạnh, trong đó có một số nhóm hàng chính: hàng may mặc, đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình; vật phẩm, văn hóa, giáo dục; đá quý, kim loại quý. Ngành xây dựng và dịch vụ kinh doanh vận tải hoạt động trở lại sẽ đẩy nhóm hàng gỗ và vật liệu xây dựng; xăng, dầu các loại; nhiên liệu; nhóm ô tô con; phương tiện đi lại; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng trưởng so với năm 2021.

- Tỉnh đã và đang tiếp tục kêu gọi thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp phát triển hạ tầng thương mại, nâng cấp, cải tạo hệ thống chợ, phát triển hệ thống bán lẻ phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân trên địa bàn tỉnh. Cùng với đẩy mạnh triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, kích cầu tiêu dùng nội địa, từ đó đã thúc đẩy hoạt động du lịch, lượng khách đến thăm quan tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tăng mạnh, chi tiêu các hoạt động ăn uống, đi lại, mua sắm của người dân cũng tăng theo.

Hoạt động xuất nhập khẩu:

Kim ngạch xuất khẩu trừ dầu thô cả năm 2022 đạt 6.389 triệu USD, tăng 8,74% so với cùng kỳ 2021 (Nghị quyết tăng 8,42%). Kim ngạch nhập khẩu cả năm 2022 ước đạt 9.357 triệu USD, tăng 12,09% so với cùng kỳ năm 2021 (Nghị quyết tăng 11,43%). Nguyên nhân tăng:

- Tỉnh đã và đang tiếp tục triển khai thực hiện các giải pháp phát triển xuất khẩu bền vững những tháng đầu năm 2022 theo Kế hoạch số 80/KH-SCT ngày 22/9/2021. Tiếp tục hỗ trợ các doanh nghiệp xuất khẩu tăng cường các hoạt động xúc tiến thương mại nhằm kết nối thúc đẩy tiêu thụ, mở rộng thị trường, khôi phục chuỗi cung ứng xuất khẩu và đẩy mạnh xúc tiến xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế cạnh tranh của tỉnh như: nông, lâm, thủy sản ... sang thị trường các nước đã dần được khôi phục trở lại sau đại dịch Covid-19;

- Các doanh nghiệp trong tỉnh tiếp tục tận dụng tốt cơ hội để đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường các nước có nhiều tiềm năng thông qua các Hiệp định thương mại tự do của Chính phủ ký kết với các nước đã có hiệu lực.

- Các sở, ban, ngành và địa phương tiếp tục tập trung thực hiện tốt nhiều giải pháp tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, phục hồi kinh tế, hỗ trợ cộng đồng doanh nghiệp trong việc tìm thị trường nhập khẩu nguyên, nhiên, vật liệu, phụ tùng, linh kiện thay thế; kiểm soát và có biện pháp kịp thời để đảm bảo nguồn cung và giá cả của nguyên, nhiên, vật liệu đầu vào nhập khẩu phục vụ sản xuất trong nước.

- Các dự án đầu tư sản xuất mới đi vào hoạt động trong năm 2022 góp phần thúc đẩy sản lượng sản xuất các mặt hàng xuất khẩu cũng như tăng nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu đầu vào để phục vụ sản xuất theo các đơn hàng mới của doanh nghiệp. Từ đó, cũng góp phần thúc đẩy tăng trưởng chỉ tiêu xuất - nhập khẩu trên địa bàn tỉnh trong năm 2022.

Nhìn chung, hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp đang hoạt động trên địa bàn Tỉnh Bà Rịa Vũng Tàu trong năm 2022 được duy trì và đang dần phục hồi. Một số ngành công nghiệp đã có bước phát triển mạnh mẽ, nhất là các ngành điện tử, dệt may, da - giày, chế biến thực phẩm … Tỷ trọng các dự án đầu tư sản xuất có trình độ công nghệ cao và công nghệ trung bình ngày càng tăng. Một số doanh nghiệp công nghiệp trên địa bàn tỉnh có quy mô lớn và có khả năng cạnh tranh trên thị trường trong nước và quốc tế.

3. Những vấn đề còn tồn tại, hạn chế và nguyên nhân:  

Mặc dù tình hình sản xuất của các doanh nghiệp đã dần đi vào ổn định nhưng việc thiếu hụt về lao động rất lớn do người lao động nhảy việc và tự ý bỏ việc đã làm ảnh hưởng đến sản xuất của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp trong khu công nghiệp có biến động lớn về số lượng lao động sau hậu Covid, một số doanh nghiệp có tỉ lệ hao hụt lao động khá cao trong tổng số lao động của doanh nghiệp do người lao động về quê, nghỉ việc không lý do. Ngoài ra, các doanh nghiệp gặp khó khăn về tài chính như trả lãi vay ngân hàng, duy trì tiền lương ổn định cho công nhân, giá nguyên liệu đầu vào tăng cao.... công tác thu hút đầu tư của tỉnh còn nhiều hạn chế, do công tác quảng bá, xúc tiến chưa được thường xuyên; hình thức quảng bá chưa phong phú; việc huy động các nguồn lực, đẩy mạnh xã hội hóa tập trung cho xúc tiến đầu tư chưa cao... Thu hút đầu tư chưa đạt như kỳ vọng.

- Quy định giữa Luật Đầu tư và Nghị định số 68/2017/NĐ-CP của Chính phủ về lựa chọn nhà đầu tư hạ tầng kỹ thuật cụm công nghiệp chưa thống nhất, gây khó khăn cho cơ quan quản lý nhà nước trong công tác tham mưu, thực hiện.

- Do quy mô của cụm công nghiệp nhỏ, chi phí quản lý cụm công nghiệp không đủ để duy trì bộ máy quản lý nên không thể triển khai các hoạt động xúc tiến đầu tư hiệu quả, do đó đã làm ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư vào cụm công nghiệp trong thời gian qua.

- Công tác chuyển đổi mô hình quản lý, kinh doanh và khai thác chợ trên địa bàn tỉnh còn chậm (03/5 chợ được chuyển đổi); do hiện nay vẫn chưa có văn bản pháp lý hoặc hướng dẫn thực hiện từ Bộ, ngành liên quan nên trong quá trình triển khai đã gặp một số vướng mắc, từ việc thẩm định, phê duyệt kế hoạch đấu thầu, hồ sơ mời thầu đến việc tổ chức đấu thầu qua mạng (online)…..

- Hiện nay, trên địa bàn tỉnh có một số chợ truyền thống được đầu tư bằng nguồn vốn ngân sách nhà nước đang bị hư hỏng, xuống cấp cần phải đầu tư nâng cấp, cải tạo, sửa chữa. Nhưng hiện nay không có kinh phí để đầu tư sửa chữa, nâng cấp, gây ảnh hưởng đến việc kinh doanh, buôn bán của tiểu thương và nhu cầu mua sắm của người dân.

- Giá xăng dầu thế giới tăng cao làm giá cước vận tải cao, chi phí thuê container lớn, tình trạng thiếu vỏ container... tiếp tục kéo dài trong năm nay sẽ tác động lên giá thành xuất khẩu, làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa xuất đi các nước. Bên cạnh đó, xu hướng gia tăng các hàng rào bảo hộ thương mại phi thuế quan tại nhiều khu vực thị trường lớn, diễn biến giá cả hàng hóa toàn cầu trở nên khó dự đoán, hay nguy cơ lạm phát, rủi ro tài chính, tiền tệ gia tăng... cũng sẽ ảnh hưởng đến hoạt động xuất khẩu. Trung Quốc là thị trường xuất khẩu lớn của Việt Nam nhưng trước ngày 08/01/2023 Trung Quốc đang thực hiện mục tiêu tăng trưởng kinh tế theo chính sách Zero Covid, vì vậy dẫn đến hạn chế nhập khẩu hàng hóa của các nước trong đó có Việt Nam nên ảnh hưởng làm giảm giá trị xuất khẩu của Việt Nam cũng như của tỉnh trong thời gian tới.

Cuộc xung đột giữa Nga và Ukraine làm cho giá xăng dầu tăng cao dẫn đến việc chi phí vận chuyển tăng, phần nào làm gián đoạn chuỗi cung ứng, vận chuyển hàng hóa, chi phí Logictis tăng dẫn đến nguyên liệu đầu vào nhập khẩu tăng theo. Mặt khác, do ảnh hưởng của cuộc xung đột Nga - Ukraine các mặt hàng xuất khẩu sang 2 nước này bị gián đoán về thanh khoản dẫn đến việc làm giảm tốc độ tăng trưởng kinh tế. Bên cạnh đó, cuộc chiến căng thẳng càng kéo dài, các lệnh áp đặt trừng phạt của phương Tây và Mỹ càng mạnh thì doanh nghiệp VN cũng dễ đối diện với chi phí hàng hóa tăng cao, làm ảnh hưởng rất nhiều đến tiến trình hồi phục của các Doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế nói chung.

4. Mục tiêu, phương hướng nhiệm vụ trong năm 2023

Năm 2023 nền kinh tế cả nước được dự báo tiếp tục gặp nhiều khó khăn, thách thức do ảnh hưởng của tình hình chính trị thế giới, nhất là ảnh hưởng từ cuộc xung đột quân sự Nga và Ukraine vẫn còn tiếp diễn; sự phục hồi chậm, tiềm ẩn nhiều rủi ro và chưa vững chắc của kinh tế thế giới như tình trạng thiếu hụt nguồn cung, đứt gãy chuỗi cung ứng, chống tự do thương mại ở một số nơi, lạm phát tiếp tục tăng cao và trở thành vấn đề lớn tại nhiều quốc gia; Tác động của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư trên thế giới và cạnh tranh chiến lược, căng thẳng thương mại giữa các nước, dịch COVID-19 vẫn còn tiếp diễn với nhiều biến chủng mới chứa ẩn nhiều rủi ro. Trước tình hình đó, yêu cầu ngành Công thương tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu sẽ phải tích cực hơn nữa trong việc triển khai đầy đủ và kịp thời các chính sách hỗ trợ người dân, doanh nghiệp, đề xuất nhiều giải pháp để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, từ đó góp phần thúc đẩy hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế của ngành theo kế hoạch được giao.

4.1. Mục tiêu tổng quát: Tiếp tục phát triển Bà Rịa - Vũng Tàu thành tỉnh mạnh về công nghiệp, cảng biển, du lịch và nông nghiệp công nghệ cao. Phấn đấu đến năm 2025 tiếp tục là tỉnh đứng trong tốp đầu cả nước về GRDP bình quân đầu người (đạt 10.370 USD.

4.2. Mục tiêu cụ thể:

- Giá trị sản xuất công nghiệp trừ dầu khí (theo giá so sánh) dự kiến là 378.655 tỷ đồng, tăng 9,24% so với năm 2022.

- Tổng mức bán lẻ hàng hóa dự kiến là 65.701 tỷ đồng, tăng 11,31% so với năm 2022.

- Kim ngạch xuất khẩu trừ dầu thô dự kiến là 7.106 tỷ đồng, tăng 11,23% so với năm 2022.

- Kim ngạch nhập khẩu dự kiến là 10.416 tỷ đồng, tăng 11,32% so với năm 2022.

Để hiện thực hóa các mục tiêu đã đề ra tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã đưa ra một số nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm thực hiện trong năm 2023 như:

- Tập trung đẩy nhanh triển khai thực hiện đầy đủ và hiệu quả các nhiệm vụ phát triển kinh tế của ngành công thương trên các lĩnh vực công nghiệp, năng lượng, thương mại … theo các chương trình, nghị quyết, kế hoạch hành động của Tỉnh ủy, UBND tỉnh trong năm 2023, trọng tâm:

- Kế hoạch số 36/KH-UBND ngày 07/3/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh về thực hiện Chương trình hành động số 11-Ctr/TU ngày 26/11/2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 23-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng xây dựng chính sách phát triển công nghiệp quốc gia đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;

- Quyết định số 1511/QĐ-UBND ngày 24/5/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình hành động số 10-TTr/TU ngày 26 tháng 10 năm 2021 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 55-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng Chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045;

- Quyết định số 4556/QĐ-UBND ngày 06 tháng 12 năm 2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh về ban hành Kế hoạch thực hiện Chương trình quốc gia về sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả giai đoạn 2021 - 2025 trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

- Quyết định số 1589/QĐ-UBND ngày 11 tháng 6 năm 2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh về ban hành Chương trình khuyến công tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu giai đoạn 2021-2025;

- Quyết định số 1797/QĐ-UBND ngày 02/6/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh về ban hành Kế hoạch thực hiện Quyết định số 1163/QĐ-TTg ngày 13/7/2021 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chiến lược "Phát triển thương mại trong nước giai đoạn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045” trên địa bàn tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu;

-Tiếp thục chủ động theo dõi diễn biến tình hình kinh tế- chính trị thế giới, diễn biến dịch bệnh COVID-19, qua đó nắm bắt những khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp trong hoạt động sản xuất kinh doanh để kịp thời chủ động phối hợp với các sở, ban, ngành tham mưu đề xuất UBND tỉnh giải pháp hỗ trợ tháo gỡ hoặc kiến nghị Chính phủ, Bộ Công Thương xem xét hướng dẫn, điều chỉnh cơ chế chính sách phát triển cho phù hợp với tình hình thực tế.

- Thường xuyên theo dõi tiến độ triển khai, vận hành hoạt động của các dự án đầu tư sản xuất mới, các dự án hạ tầng cụm công nghiệp … để kịp thời cùng các sở, ngành, địa phương hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn, góp phần thúc đẩy hoàn thành dự án đưa vào vận hành, nhanh chóng tạo ra giá trị sản xuất, gia tăng kim ngạch xuất khẩu trên địa bàn tỉnh./.  

Đinh Thị Bích Liên

Phòng Thông tin và xúc tiến thương mại - VIOIT

TIN KHÁC