HỢP TÁC QUỐC TẾ

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Hợp tác quốc tế

Hoàn thiện chính sách về phát triển bền vững trong Hiệp định EVFTA nhằm đẩy mạnh xuất nhập khẩu của Việt Nam

1. Khái quát một số cam kết về phát triển bền vững trong Hiệp định EVFTA

Chương 13 EVFTA bao gồm 17 Điều chia thành 03 nhóm nội dung: (i) Các cam kết về cách thức ban hành các tiêu chuẩn, quy định nội địa liên quan tới các khía cạnh bền vững; (ii) Các cam kết về các khía cạnh cụ thể của phát triển bền vững (lao động, môi trường, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp); (iii) Các vấn đề khác (giám sát, giải quyết tranh chấp, giám sát…), các cam kết trong Chương này phần lớn không đặt ra các yêu cầu bắt buộc hay tiêu chuẩn mới mà chủ yếu là nhắc lại các nghĩa vụ đang thực thi hoặc ghi nhận cam kết nỗ lực cải thiện hiện trạng, nâng cao các tiêu chuẩn nội địa.

Nhóm 1 bao gồm 03 Điều khoản đầu tiên, cam kết về các tiêu chuẩn, quy định nội địa về phát triển bền vững: (i) Không được loại bỏ hoặc hạ bớt các tiêu chuẩn, quy định pháp luật về môi trường, lao động của mình theo cách thức ảnh hưởng tới thương mại và đầu tư giữa Việt Nam và EU; (ii) Không được vì mục đích thúc đẩy thương mại đầu tư mà bỏ qua việc thực thi các quy định pháp luật về môi trường, lao động; (iii) Không được áp dụng các quy định về môi trường, lao động theo cách thức có thể hạn chế thương mại đầu tư giữa Việt Nam và EU một cách trá hình; (iv) Khi dự thảo hoặc thực thi các quy định nhằm bảo vệ môi trường, điều kiện lao động thì phải dựa trên các căn cứ, thông tin khoa học sẵn có, tham khảo các tiêu chuẩn, hướng dẫn, khuyến nghị quốc tế liên quan; và (v) Phải bảo đảm nguyên tắc minh bạch, tham vấn đầy đủ khi ban hành các quy định, tiêu chuẩn mới về lao động, môi trường.

Phiên họp lần thứ nhất của Ủy ban Thương mại của Hiệp định EVFTA (Ảnh: moit.gov.vn)

Đối với Nhóm 2 về Các cam kết trong một số khía cạnh cụ thể của phát triển bền vững và Nhóm 3 về Các vấn đề khác (giám sát giải quyết tranh chấp, …). Cụ thể

- Tiêu chuẩn và thỏa thuận đa phương về lao động

Điều 13.4 EVFTA không đưa ra các cam kết hay tiêu chuẩn lao động mới, nhưng nhấn mạnh việc cam kết thực hiện nghĩa vụ của Việt Nam và EU với tư cách là Thành viên của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) và các tiêu chuẩn lao động trong Tuyên bố 1998 của ILO về Các nguyên tắc và các quyền cơ bản tại nơi làm việc bao gồm: (i) Tự do liên kết và công nhận một cách thực chất quyền thương lượng tập thể; (ii) Chấm dứt mọi hình thức lao động cưỡng bức hoặc ép buộc; (iii) Loại bỏ một cách hiệu quả lao động trẻ em; và (iv) Chấm dứt phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp.

- Hiệp định môi trường đa phương

Điều 13.5. EVFTA không đưa ra các tiêu chuẩn môi trường cụ thể mà chỉ thừa nhận giá trị của các hiệp định và quản trị môi trường đa phương; nhấn mạnh sự cần thiết trong việc tăng cường sự tương trợ giữa thương mại và môi trường; tham vấn và hợp tác khi thích hợp trong các vấn đề môi trường liên quan đến thương mại; tái khẳng định cam kết thực thi một cách hiệu quả pháp luật và thực tiễn trong nước, các hiệp định môi trường đa phương; trao đổi thông tin và kinh nghiệm về hiện trạng và tiến độ liên quan đến việc phê chuẩn hoặc các sửa đổi của các hiệp định môi trường đa phương; cam kết không ngăn cản một Bên thông qua hoặc duy trì các biện pháp nhằm thực hiện các hiệp định môi trường đa phương với điều kiện các biện pháp đó không được áp dụng theo cách thức gây ra sự phân biệt đối xử tùy tiện và vô lý giữa các bên hoặc được sử dụng như một phương thức hạn chế thương mại trá hình.

- Biến đổi khí hậu

Điều 13.6. EVFTA đề cập đến cam kết thực thi hiệu quả nhằm đạt được mục tiêu của Công ước khung của Liên hợp quốc về Biến đổi khí hậu năm 1992 (UNFCCC), Nghị định thư Kyoto liên quan đến Công ước UNFCCC và Hiệp định Paris. Cụ thể là: (i) Hợp tác và thúc đẩy sự đóng góp tích cực nhằm nâng cao năng lực của các Bên trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế khí thải nhà kính thấp và thích ứng khí hậu, phù hợp với Hiệp định Paris; (ii) Thừa nhận vai trò của chính sách trong nước trong việc giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu theo Công ước UNFCCC (tham vấn và chia sẻ thông tin, kinh nghiệm trong xây dựng, thực thi và vận hành các cơ chế định giá các-bon; thúc đẩy thị trường các-bon trong nước và quốc tế, bao gồm qua các cơ chế như Chương trình mua bán khí thải và Giảm phát thải từ phá rừng và suy thoái rừng; tăng cường tiết kiệm năng lượng, công nghệ khí thải thấp và năng lượng tái tạo).

- Đa dạng sinh học

Điều 13.6. EVFTA liên quan đến cam kết theo Công ước về Đa dạng sinh học năm 1992 (CBD) tập trung vào Điều 15 của Công ước CBD, chủ quyền tài nguyên của các quốc gia và quyền quyết định việc được phép tiếp cận nguồn gen là của Chính phủ mỗi Bên và tùy thuộc vào pháp luật trong nước; Kế hoạch chiến lược về Đa dạng sinh học 2011-2020 và Mục tiêu Đa dạng sinh học Aichi; Công ước về Buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã đang bị đe dọa (CITES) và các văn kiện quốc tế liên quan khác.

- Quản lý tài nguyên rừng bền vững và thương mại lâm sản

Ngoài cam kết đảm bảo việc bảo tồn và quản lý bền vững các nguồn tài nguyên rừng sẽ mang lại lợi ích cho các mục tiêu kinh tế, môi trường và xã hội, các cam kết cụ thể trong Điều 13.7. EVFTA bao gồm:

Khuyến khích thúc đẩy thương mại lâm sản từ những khu rừng được quản lý bền vững và được thu hoạch phù hợp với luật pháp nước sở hữu khu rừng;

Trao đổi thông tin với Bên kia về các biện pháp thúc đẩy tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ từ các khu rừng được quản lý bền vững, và khi thích hợp, hợp tác để phát triển các biện pháp;

Thông qua các biện pháp nhất quán với luật pháp trong nước và các Hiệp ước quốc tế mà Bên đó là thành viên, nhằm thúc đẩy bảo tồn nguồn tài nguyên rừng và đấu tranh chống lại khai thác và buôn bán gỗ trái phép;

Trao đổi thông tin với Bên kia về các hành động cải thiện việc thực thi luật lâm nghiệp và hợp tác để tối ưu hóa tác động và bảo đảm sự hỗ trợ lẫn nhau trong việc tuân thủ các chính sách tương ứng nhằm loại bỏ gỗ và sản phẩm gỗ khai thác trái phép khỏi dòng chảy thương mại;

Hợp tác với Bên kia ở cấp khu vực và toàn cầu nhằm thúc đẩy bảo tồn và quản lý bền vững các loại rừng.

- Thương mại và quản lý bền vững nguồn tài nguyên sinh vật biển và sản phẩm nuôi trồng thủy sản

Nội dung cam kết trong Điều 13.9 Hiệp định công nhận tầm quan trọng của việc bảo tồn và quản lý bền vững nguồn tài nguyên sinh vật biển và hệ sinh thái biển, cũng như việc thúc đẩy ngành nuôi trồng thủy sản một cách bền vững và có trách nhiệm.

- Thương mại và đầu tư hướng đến phát triển bền vững

Nội dung thương mại và đầu tư hướng đến phát triển bền vững được các bên cam kết trong Điều 13.10 Hiệp định nhằm tăng cường sự đóng góp của thương mại và đầu tư vào mục tiêu phát triển bền vững ở khía cạnh kinh tế, xã hội và môi trường. Cụ thể:

Công nhận vai trò có lợi của việc làm bền vững có thể có đối với hiệu quả, đổi mới và năng suất kinh tế, và hai Bên sẽ khuyến khích sự gắn kết chính sách hơn nữa, một mặt là giữa các chính sách thương mại và mặt khác là giữa các chính sách lao động;

Nỗ lực tạo thuận lợi và thúc đẩy thương mại và đầu tư đối với hàng hóa và dịch vụ môi trường phù hợp với Hiệp định;

Nỗ lực thuận lợi hóa thương mại và đầu tư đối với hàng hóa và dịch vụ cụ thể liên quan để giảm thiểu biến đổi khí hậu, như năng lượng tái tạo bền vững và hàng hóa và dịch vụ tiết kiệm năng lượng, bao gồm thông qua sự phát triển các khung chính sách có lợi cho việc triển khai các công nghệ tốt nhất hiện có;

Thừa nhận các sáng kiến tự nguyện có thể đóng góp vào việc đạt được và duy trì ở mức độ cao việc bảo vệ môi trường và lao động và các biện pháp quản lý quốc gia bổ sung; do đó mỗi Bên, theo quy định của luật pháp và các chính sách quốc gia, khuyến khích việc phát triển và tham gia các sáng kiến trên, bao gồm cả các chương trình đảm bảo bền vững tự nguyện như các chương trình thương mại công bằng và đạo đức; và

Phù hợp với pháp luật hoặc chính sách quốc gia, đồng ý thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, với điều kiện các biện pháp liên quan không được gây ra sự phân biệt đối xử tùy tiện và vô lý giữa các Bên hoặc tạo thành một phương thức hạn chế thương mại trá hình; các biện pháp thúc đẩy trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp bao gồm các trao đổi về thông tin và thực hành tốt, các hoạt động giáo dục và đào tạo và tư vấn kỹ thuật; về vấn đề này, mỗi Bên sẽ xem xét các công cụ liên quan được quốc tế chấp nhận mà đã được Bên đó xác nhận hoặc hỗ trợ...

- Thông tin khoa học

Cam kết về thông tin trong EVFTA cũng tương tự như cam kết chung của các hiệp định có quy định về nội dung này được hai Bên tham gia ký kết. Theo EVFTA, khi chuẩn bị và thực hiện các biện pháp nhằm bảo vệ các điều kiện môi trường hoặc lao động có thể ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư, mỗi Bên sẽ xem xét các thông tin liên quan đến khoa học, kỹ thuật và đổi mới và các tiêu chuẩn, hướng dẫn hoặc khuyến nghị có liên quan, bao gồm nguyên tắc phòng ngừa.

- Minh bạch

Minh bạch không chỉ là một nguyên tắc cơ bản, mà còn là một trong những yếu tố cốt lõi nhờ vào các quy định xuyên suốt nhiều chương của Hiệp định, đặc biệt là các FTA thế hệ mới như CPTPP (chương 26) và EVFTA (chương 14) đều có một chương riêng về Minh bạch hóa. Liên quan đến minh bạch hóa trong Chương 13 về Thương mại và Phát triển bền vững trong EVFTA, Điều 13.12  quy định: “Mỗi Bên, phù hợp với luật pháp trong nước và Chương 14 (Minh bạch), phải đảm bảo rằng bất kỳ biện pháp nhằm bảo vệ các điều kiện môi trường và lao động có thể ảnh hưởng đến thương mại và đầu tư được xây dựng, giới thiệu và triển khai thực hiện một cách minh bạch, thông báo kịp thời và đem lại cơ hội đưa ra quan điểm cho những người quan tâm”.

- Đánh giá tác động bền vững

Điều 13.13 quy định: “Hai Bên phải, độc lập hoặc phối hợp, khảo sát, giám sát và đánh giá, tác động của việc thực hiện Hiệp định này đối với phát triển bền vững thông qua các chính sách, thông lệ, quy trình tham gia và thiết chế tương ứng”.

- Hợp tác về thương mại và phát triển bền vững

Nội dung cam kết liên quan đến các khía cạnh liên quan đến thương mại và phát triển bền vững khá toàn diện, bao gồm: hợp tác tại các diễn đàn quốc tế; trao đổi thông tin và kinh nghiệm liên quan đến các phương pháp và các chỉ tiêu đánh giá tác động lên thương mại bền vững; tác động của luật, quy định, định mức và tiêu chuẩn lao động và môi trường lên thương mại hoặc đầu tư; các khía cạnh liên quan đến thương mại của các hiệp định môi trường đa phương, bao gồm cả hợp tác hải quan; biến đổi khí hậu quốc tế hiện nay và trong tương lai; trách nhiệm xã hội và trách nhiệm giải trình của doanh nghiệp; bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học, bao gồm các bản đồ, đánh giá và định giá hệ sinh thái và dịch vụ liên quan, và đấu tranh chống buôn bán quốc tế bất hợp pháp động vật hoang dã; bảo tồn và quản lý rừng bền vững nhằm giảm thiểu nạn phá rừng và khai thác gỗ bất hợp pháp; đánh bắt cá bền vững và kinh doanh sản phẩm cá đã được quản lý bền vững; xác định và thực hiện các chiến lược và chính sách tăng trưởng xanh; Hợp tác trong hoạt động hợp tác tổ chức hội thảo, chuyên đề, đào tạo nghiên cứu, hỗ trợ kỹ thuật và xây dựng năng lực về thương mại và phát triển bền vững.

- Các điều khoản về thể chế

Các bên cam kết thành lập và hoạt động của Ủy ban Thương mại và phát triển bền vững thành lập theo Điều 17.2 (Các Ủy ban chuyên trách) gồm các cán bộ cấp cao của các cơ quan quản lý hành chính có liên quan của mỗi Bên hoặc các cán bộ được chỉ định. Mỗi Bên phải thành lập một hoặc các nhóm tư vấn trong nước mới hoặc tham vấn ý kiến của nhóm tư vấn trong nước hiện có về phát triển bền vững với nhiệm vụ tư vấn về việc thực hiện Chương này. Mỗi Bên phải thành lập và thiết lập các thủ tục, hình thức hoạt động của nhóm hoặc các nhóm tư vấn trong nước bao gồm các tổ chức đại diện độc lập, bảo đảm sự đại diện cân bằng giữa các lĩnh vực kinh tế, xã hội và môi trường, bao gồm tổ chức người lao động và người sử dụng lao động, doanh nghiệp và các tổ chức môi trường.

- Tham vấn chính phủ

Điều 13.16 về tham vấn chính phủ là các cam kết liên quan đến thủ tục giải quyết các bất đồng theo Điều này và Điều 13.17 (Hội đồng Chuyên gia) và Phụ lục 15-A (Quy tắc Thủ tục) được áp dụng phù hợp với khoản 2 Điều 13.17 (Hội đồng Chuyên gia), với những sửa đổi phù hợp. Các nội dung chính bao gồm: yêu cầu tham vấn và thủ tục liên quan; tham khảo áp dụng các quy định của ILO hay các tổ chức hay cơ quan môi trường đa phương có liên quan trên cơ sở công khai.

- Hội đồng chuyên gia

Điều 13.17 liên quan đến cam kết triệu tập Hội đồng Chuyên gia và các quy trình, thủ tục, điều kiện có liên quan. Cụ thể, nếu trong vòng 120 ngày hoặc một khoảng thời gian dài hơn theo thỏa thuận, một Bên có thể gửi một văn bản yêu cầu đến đầu mối liên hệ của Bên kia yêu cầu triệu tập một Hội đồng Chuyên gia để xem xét một vấn đề nào đó chưa được giải quyết thỏa đáng bởi Ủy ban Thương mại và Phát triển bền vững.

2. Một số giải pháp hoàn thiện chính sách về phát triển bền vững trong Hiệp định EVFTA nhằm đẩy mạnh xuất nhập khẩu của Việt Nam

2.1.  Hoàn thiện chính sách và pháp luật của Nhà nước

+ Chính sách và pháp luật thương mại: Sửa đổi, bổ sung các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật thương mại, trong đó đưa ra các điều khoản liên quan đến PTBV, tập trung chủ yếu vào các vấn đề thương mại và PTBV quy định trong các cam kết quốc tế nói chung và EVFTA nói riêng; Tiếp tục hoàn thiện cơ chế, chính sách xuất nhập khẩu theo các quy định của các tổ chức thương mại quốc tế mà Việt Nam tham gia; Xây dựng một chính sách tiêu dùng bền vững, trong đó có tiêu dùng xanh, tiêu dùng hợp lý, khoa học; Hoàn thiện chính sách thương mại cho khu vực nông thôn và miền núi, góp phần phát triển thị trường, chuyển từ sản xuất hàng hoá ở quy mô nhỏ sang quy mô lớn, phát triển sản phẩm đặc thù của vùng miền theo hướng sản xuất xanh, hữu cơ; Hoàn thiện cơ chế, chính sách và tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát thị trường, để ngăn chặn tình trạng nhập lậu hóa chất, phân bón độc hại, sản xuất hàng giả, kinh doanh hàng kém phẩm chất...

Toạ đàm Một năm thực thi Hiệp định EVFTA Cơ hội, thách thức và giải pháp do Bộ Ngoại Giao và Bộ Công Thương đồng tổ chức (Ảnh: moit.gov.vn)

+ Chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường: Giải quyết hài hoà mối quan hệ hữu cơ giữa thương mại XNK và PTBV, những lợi ích đạt được từ tăng trưởng XNK với chi phí cho việc tuân thủ và đáp ứng các qui định, quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường trong nước cũng như quốc tế; Điều chỉnh pháp luật về môi trường của Việt Nam phải phù hợp với pháp luật quốc tế, đặc biệt là phản ánh được các cam kết của Việt Nam thể hiện qua các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam tham gia. Nhằm khắc phục sự khác biệt giữa pháp luật trong nước và điều ước quốc tế thì trong quá trình soạn thảo và ban hành văn bản quy phạm pháp luật cần có sự rà soát một cách thường xuyên và hệ thống, nghiên cứu pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài để từng bước có sự tương thích giữa pháp luật Việt Nam với luật chơi chung; Các quy định môi trường phải tạo điều kiện cho phát triển thương mại, trước hết là góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hoá, dịch vụ trên cả hai phương diện: chất lượng hàng hoá và hình ảnh của công tác BVMT có liên quan đến hoạt động sản xuất, cung cấp hàng hoá và dịch vụ đó. Có thể nói đây chính là phương hướng trọng điểm để hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan.

+ Chính sách và pháp luật lao động: Rà soát, ban hành đồng bộ các chính sách xã hội, bao gồm chính sách hỗ trợ về tài chính, dạy nghề để chuyển đổi nghề nghiệp; cung cấp các dịch vụ tư vấn việc làm... để giúp người lao động bị mất việc làm; Đánh giá những tác động của EVFTA đến vấn đề lao động, việc làm, xã hội... và đề xuất các giải pháp để có thể thực hiện hiệu quả EVFTA; Hoàn thiện thị trường lao động, phát triển việc làm, bảo đảm an sinh xã hội bền vững, kết nối cung cầu lao động; Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa để tạo việc làm và chuyển dịch cơ cấu việc làm; tăng cường đối thoại lao động, bảo đảm tiêu chuẩn lao động; Tăng cường đào tạo và phát triển kỹ năng cho người lao động; Tập trung phát triển các chương trình về an toàn và vệ sinh lao động; Mở rộng cơ hội cho người lao động tham gia hệ thống chính sách bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp để chủ động đối phó khi thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các rủi ro, ốm đau, tai nạn lao động, tuổi già,... hỗ trợ thường xuyên đối với người có hoàn cảnh đặc thù và hỗ trợ đột xuất cho người dân khi gặp các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát (mất mùa, thiên tai, đói nghèo, dịch bệnh).

2.2. Các chính sách cụ thể

+ Chính sách lao động đáp ứng cam kết về tiêu chuẩn và thỏa thuận đa phương về lao động

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm điều chỉnh các quan hệ lao động, tiêu chuẩn lao động phù hợp với các tiêu chuẩn, cam kết, công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia, đặc biệt là để đáp ứng cam kết tiêu chuẩn và thỏa thuận đa phương về lao động,

Quốc hội Việt Nam cần sớm phê chuẩn Công ước cơ bản còn lại trong số 8 Công ước cơ bản của ILO – Công ước số 87 về Tự do Hiệp hội và Bảo vệ Quyền Tổ chức;

Sớm đưa Dự thảo Luật về Hội ra xem xét phê chuẩn tại Quốc hội, vì theo cam kết về quyền tự do thành lập hội, tới đây sẽ có các tổ chức của công nhân được thành lập đứng ngoài hệ thống của Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam.

Hoàn thiện chính sách tiền lương theo hướng tăng cường thương lượng, thỏa thuận theo nguyên tắc thị trường. Phát triển các hoạt động tư vấn, công bố thông tin thị trường lao động; cải cách chính sách bảo hiểm thất nghiệp, hướng tới các giải pháp duy trì, bảo đảm việc làm cho người lao động;

Xây dựng và hoàn thiện các cơ chế cung cấp dịch vụ công trong lĩnh vực lao động, việc làm; tăng cường quản lý lao động, gắn kết, đồng bộ với cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu khác có liên quan.

+ Chính sách đáp ứng cam kết về thương mại và môi trường

* Luật Thuỷ sản sửa đổi năm 2017 chưa quy định chi tiết về chế tài xử phạt. Do vậy, Nhà nước cần ban hành thêm Nghị định hưỡng dẫn cụ thể ngoài Nghị định 26/2019/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật Thuỷ sản, đảm bảo phù hợp với tình hình thực tế, phù hợp với các quy định và cam kết của của Việt Nam trong các FTA liên quan đến về vấn đề lao động và trách nhiệm xã hội, sở hữu trí tuệ, truy xuất nguồn gốc, bảo vệ môi trường sinh thái và nguồn lợi thuỷ sản nhằm giảm áp lực nguồn lợi ven biển bằng các chính sách quản lý vùng ven bờ, sử dụng, quản lý tái tạo nguồn lợi thuỷ sản và đáp ứng các quy định quốc tế về quản lý các vi phạm trong khai thác thuỷ sản bất hợp pháp, không khai báo và không đăng ký (IUU)…, đồng thời cần minh bạch và công khai về các chính sách hỗ trợ đối với các quốc gia thành viên.

Tập trung rà soát, điều chỉnh bổ sung, xây dựng mới các quy hoạch phát triển sản phẩm nông nghiệp, nuôi trồng, chế biến thuỷ sản, phát triển ngành dệt may... theo vùng, theo lĩnh vực sản xuất, theo đối tượng chủ lực trên cơ sở các chiến lược phát triển xuất nhập khẩu Việt Nam nhằm nâng cao hiệu quả thực thi các chiến lược, quy hoạch, đề án, từ đó phát triển bền vững xuất nhập khẩu của Việt Nam.

2.3. Giải pháp về bộ máy tổ chức và cơ chế phối hợp

 Hoàn thiện cơ chế phối hợp giữa các cơ quan quản lý thương mại và quản lý môi trường, lao động nâng cao khả năng đáp ứng cam kết về PTBV. Nâng cấp, củng cố bộ máy, trao thêm quyền hạn cho Ủy ban Quốc gia thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045. Về lâu dài, theo kinh nghiệm của các nước, để giải quyết tốt vấn đề PTBV ngày càng trở nên phức tạp, phát sinh không chỉ trong quốc gia mà còn mang tính khu vực, tính toàn cầu do hội nhập đem lại, cần phải thành lập Ủy ban Quốc gia về phát triển bền vững ở một tầm bao quát được cả lĩnh vực thương mại, môi trường lao động và nông nghiệp. Uỷ ban này sẽ làm đầu mối hợp tác với các chính phủ, các tổ chức quốc tế trong khu vực và trên thế giới về thương mại và PTBV.

Ở các địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương) cần sắp xếp củng cố bộ máy của Sở Công thương, Môi trường, Lao động-thương binh và xã hội làm chức năng quản lý của Nhà nước trên địa bàn theo hướng giao cho một tổ công tác chuyên theo dõi về thương mại và PTBV.

Ở các Bộ, ngành cần thành lập ban chuyên trách về các vấn đề thương mại và PTBV, là đầu mối quan hệ công tác với Ủy ban về thương mại và PTBV và là cơ quan phối hợp với các vụ chức năng giúp Bộ trưởng cụ thể hoá các chính sách PTBV trong phạm vi ngành, lĩnh vực được Chính phủ giao nhiệm vụ quản lý.

Cần tăng cường hơn nữa sự phối hợp của các bộ/ngành, địa phương trong việc ban hành, thực thi, kiểm soát và giải quyết tranh chấp pháp luật liên quan đến về thương mại và PTBV.    

2.4. Giải pháp về thực thi chính sách

+ Xây dựng chế tài giám sát thực thi chính sách hiệu quả; phối hợp chặt chẽ trong quản lý và điều hành giữa các cơ quan quản lý Nhà nước, giữa Trung ương và địa phương, giữa các Bộ, ngành, hiệp hội ngành nghề và doanh nghiệp nhằm thực thi hiệu quả cam kết về thương mại và PTBV; Phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm các hành vi vi phạm pháp luật và các quy định về bảo vệ môi trường, an toàn lao động trong hoạt động sản xuất nông sản, khai thác, nuôi trồng, chế biến thủy sản, công nghiệp dệt may...;

+ Xây dựng chương trình định kỳ nghiên cứu các quy định pháp luật, tiêu chuẩn môi trường, lao động có liên quan tới sản phẩm và quá trình sản xuất sản phẩm xuất khẩu của một số thị trường xuất khẩu tiềm năng lớn, trong đó có thị trường EU;

+ Tăng cường cái cách hành chính, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao năng lực và hiệu lực quản lý ngành để đáp ứng yêu cầu về PTBV trong  EVFTA;

+ Đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật quốc tế, pháp luật nước ngoài và các điều ước quốc tế về thương mại và PTBV mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia cho các doanh nghiệp.

Ngoài ra, để đảm bảo cho sự phát triển xuât nhập khẩu đáp ứng yêu cầu PTBV của Việt Nam, tính minh bạch của hệ thống pháp luật phải được thể hiện qua sự công khai, dễ tiếp cận của hệ thống chính sách pháp luật, mà đặc biệt là hệ thống các tiêu chuẩn về môi trường và lao động. Đồng thời, cần phải đảm bảo tính hợp lý, đúng đắn của các tiêu chuẩn về kỹ thuật, môi trường, lao động không trở thành các rào cản bất hợp lý đối với thương mại quốc tế.

Giải pháp thực thi chính sách thương mại và PTBV lên quan đến lao động, công đoàn

+ Đổi mới phương thức hoạt động và quản lý của công đoàn trong doanh nghiệp. Theo cam kết trong EVFTA và các nguyên tắc của điều ước quốc tế về lao động và công đoàn. Trong tương lai gần, tổ chức công đoàn do người lao động thành lập, không có sự thao túng hay gây ảnh hưởng của người sử dụng lao động sẽ được thành lập và hoạt động sau khi Luật về Hội được thông qua.

+ Cần quan tâm đầy đủ về chất lượng của các tổ chức công đoàn, bảo đảm đây là công đoàn thực sự do người lao động tự nguyện lập nên, do những người lao động làm chủ và hoạt động theo mục tiêu tối thượng là bảo vệ đến cùng quyền, lợi ích chính đáng, hợp pháp của người lao động trong quan hệ với chủ sử dụng lao động; Cần kịp thời xử lý, hóa giải các vấn đề nảy sinh về quan hệ lao động và công đoàn trong quan hệ quốc tế, trước mắt là đáp ứng yêu cầu cam kết trong EVFTA, để các vấn đề đó không trở thành tranh chấp quốc tế.

+ Đánh giá những tác động của EVFTA đến vấn đề lao động và việc làm khu vực nông thôn để có đề xuất các giải pháp phù hợp có thể thực thi cam kết về lao động trong EVFTA; Nâng cao năng lực cạnh tranh của các tổ chức kinh doanh trong hội nhập EVFTA, qua đó cải thiện sinh kế và nâng cao thu nhập cho hộ nông dân quy mô nhỏ, dễ bị tổn thương trước ảnh hưởng trong tiến trình hội nhập.

Giải pháp thực thi chính sách thương mại và PTBV lên quan đến sản xuất, thương mại

+ Tập trung đẩy nhanh quá trình cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo mô hình sản xuất tiên tiến, ứng dụng khoa học - công nghệ, an toàn, thân thiện với môi trường, đảm bảo các tiêu chuẩn về lao động trong sản xuất. Nhanh chóng triển khai xây dựng mã số vùng trồng, chỉ dẫn địa lý, đảm bảo truy xuất nguồn gốc, chất lượng và an toàn thực phẩm theo đúng quy định của EU;

+ Rà soát, đề xuất cơ chế, chính sách cho người dân và doanh nghiệp liên kết chuỗi cung ứng nông lâm thủy sản an toàn; chính sách đầu tư hạ tầng và hỗ trợ phát triển các mô hình chuỗi giá trị thực phẩm theo hướng sản xuất quy mô lớn gắn với thị trường tiêu thụ trong nước cũng như xuất khẩu, từ đó nhân rộng ra cả nước;

-  Hướng dẫn, đôn đốc các địa phương ban hành các văn bản chỉ đạo, các qui định và cơ chế chính sách đặc thù của địa phương trong quản lý và hỗ trợ phát triển liên kết chuỗi sản xuất kinh doanh nông lâm thủy sản đảm bảo chất lượng, ATTP dựa trên tiêu chuẩn, quy chuẩn của thị trường tiêu thị đối với hàng hóa xuất khẩu;

+ Thu hút và thúc đẩy doanh nghiệp xuất khẩu tăng cường đầu tư chế biến sâu để gia tăng hàm lượng giá trị nội địa, nắm rõ các quy định của EVFTA để vận dụng đúng và hưởng lợi các ưu đãi từ Hiệp định, đặc biệt đối với nông lâm thủy sản đã qua chế biến; Tăng cường thu hút FDI từ EU vào nông nghiệp Việt Nam để gắn nông nghiệp Việt Nam với chuỗi giá trị nông nghiệp toàn cầu, tận dụng tốt nhất lợi thế của các hai bên trong quan hệ thương mại và đầu tư;

+ Tiếp tục cải cách hành chỉnh và các thủ tục, giấy phép liên quan đến xuất nhập khẩu hàng hóa. Ví dụ như, trong quá trình xuất khẩu thực tế, cần có sự điều chỉnh thời hạn giấy chứng nhận kiểm dịch vệ sinh an toàn thực phẩm theo thông lệ quốc tế, thay vì chỉ có 02 tháng như hiện nay bởi trên thực nguyên do từ việc thông thường doanh nghiệp nhập khẩu nguyên liệu thuỷ sản để dự trữ chờ đơn hàng, không phải nhập khẩu nguyên liệu để chế biến ngay.

+ Chú trọng xây dựng thương hiệu quốc gia cho một số sản phẩm xuất khẩu chủ lực của Việt Nam đảm bảo các yêu cầu theo tiêu chuẩn quốc tế, gắn với chỉ dẫn xuất xứ địa lý của Việt Nam được cam kết trong EVFTA. Xây dựng hình ảnh sản phẩm Việt Nam thông qua việc nâng cao chất lượng, an toàn thực phẩm, thân thiện môi trường, đáp ứng tiêu chuẩn lao động và công bằng xã hội; Thúc đẩy đàm phán mở cửa thị trường xuất khẩu nông sản của Việt Nam vào EU;

Giải pháp thực thi chính sách thương mại và PTBV lên quan đến môi trường

+ Tiếp tục thúc đẩy thực thi đầy đủ các cam kết của Việt Nam trong các hiệp định đa phương về môi trường, đa dạng sinh học, đánh bắt thủy hải sản, bảo tồn và bảo vệ động thực vật hoang dã mà Việt Nam đã tham gia;

+ Đẩy mạnh việc triển khai các biện pháp chống lại các hành vi khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định. Theo đó, cần nâng cao năng lực thực thi của hệ thống quản lý Nhà nước với chủ tàu, ngư dân song song với vấn đề năng lực thực thi và cam kết; Ngăn chặn, giảm thiểu và chấm dứt tình trạng tàu cá và ngư dân Việt Nam khai thác hải sản trái phép ở vùng biển nước ngoài; Tham gia đầy đủ các tổ chức của khu vực và thế giới liên quan về IUU, cũng như ký kết hiệp định với các quốc gia có cảng cá, giúp cung cấp thông tin về nguồn nguyên liệu hải sản khai thác.

+ Thực hiện Hiệp định đối tác tự nguyện giữa nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam và Liên minh Châu Âu về thực thi luật lâm nghiệp, quản trị rừng và thương mại lâm sản (VPA/FLEGT).

Tăng cường hiệu lực thi hành của chính sách pháp luật về bảo vệ môi trường là vấn đề hết sức cấp bách hiện nay. Những thiệt hại về xuất khẩu liên quan đến môi trường cho thấy trong nhiều trường hợp, việc không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật BVMT Việt Nam của các doanh nghiệp trong nước cũng có khả năng trở thành lý do của việc áp dụng các biện pháp thương mại./.

Nguyễn Ngọc Quang

Trung tâm Tư vấn, Đào tạo Công nghiệp và Thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC
Dịch vụ môi trường
THƯ VIỆN ẢNH