NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Tự do hoá thương mại: Lý luận, kinh nghiệm và giải pháp cho Việt Nam (Phần 2 tiếp theo và hết)

Tự do hoá thương mại: Lý luận, kinh nghiệm và giải pháp cho Việt Nam (Phần 1)

Định hướng và giải pháp cho thời gian tới

Bước vào thời kỳ đổi mới toàn diện nền kinh tế - xã hội do Đảng ta khởi xướng tại Đại hội Đảng VI (năm 1986), tự do hóa thương mại được xem là một hướng đổi mới quan trọng trong chính sách và cơ chế quản lý thương mại và kinh tế đối ngoại.Những hiểu lầm về tự do hóa thương mại đã dần dần được khắc phục, thuật ngữ này được nhiều nhà kinh tế và quản lý chấp nhận.

Thực tiễn cho thấy: tự do hóa thương mại - vấn đề chưa có tiền lệ, không những trong thương mại với nước ngoài mà cả với thương mại nội địa đặt ra nhiều vấn đề mới, phức tạp.

Từ sau Đại hội VI, với chủ trương chuyển sang cơ chế giá thị trường, với chính sách kinh tế nhiều thành phần và tự do lưu thông hàng hóa, thị trường và thương nghiệp nội địa nước ta thực chất đã bắt đầu được tự do hóa.

Với lĩnh vực đối ngoại, tự do hóa thương mại là một quá trình. Thực chất, đổi mới cơ chế quản lý ngoại thương ở nước ta bắt đầu từ năm 1979. Trong một thời gian dài, nguyên tắc Nhà nước độc quyền ngoại thương và mọi hoạt động kinh tế đối ngoại đã được pháp luật công nhận. Hiến pháp năm 1980 trong Điều 21- quy định: “Nhà nước giữ độc quyền ngoại thương và các quan hệ kinh tế khác với nước ngoài”. Đến Đại hội Đảng lần thứ VI (1986), nguyên tắc Nhà nước độc quyền ngoại thương vẫn còn được duy trì. Văn kiện Đại hội đại biểu lần thứ VI ghi rõ: “Hoạt động xuất nhập khẩu phải chuyển mạnh sang hạch toán kinh doanh XHCN trên nguyên tắc Nhà nước độc quyền ngoại thương và trung ương thống nhất quản lý ngoại thương”. Trước hội nghị Ban Chấp hành Trung ương lần thứ 6 khóa VI, những cải cách về cơ chế quản lý ngoại thương nói chung còn dè dặt, chưa vượt ra ngoài khuôn khổ Nhà nước độc quyền ngoại thương.

Đổi mới chính sách, cơ chế quản lý ngoại thương theo hướng tự do hóa đòi hỏi phải giải quyết nhiều vấn đề phức tạp. Do đó, không thể đơn giản hóa, phải có thời gian, điều kiện nhất định. Quá trình đó dài hay ngắn tùy thuộc vào nỗ lực chủ quan và các điều kiện cần thiết. Trong đó,điều kiện bên trong (đường lối xây dựng kinh tế, trình độ phát triển kinh tế, khoa học - công nghệ) của đất nước, khả năng huy động các nguồn lực, đặc biệt nguồn nhân lực, trí tuệ của dân tộc... là yếu tố quyết định. Đương nhiên, điều kiện bên ngoài, sự giúp đỡ quốc tế không thể thiếu được, nhưng dù quan trọng đến đâu, yếu tố đó cũng chỉ có tác dụng thúc đẩy hỗ trợ.

Bước vào thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, tự do hóa ngoại thương là một xu thế khách quan, không thể đảo ngược, cần được thúc đẩy mạnh mẽ, song phải có bước đi phù hợp với đặc điểm, điều kiện nước ta và yêu cầu hội nhập với bên ngoài, bảo đảm lợi ích quốc gia.

Đa phương hóa quan hệ, thông điệp “Việt Nam mong muốn làm bạn với các nước” đã được thể hiện bằng việc ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA) vào tháng 7 năm 2000. Với BTA, chúng ta đã cam kết chơi theo luật chơi quốc tế, bình đẳng, xóa bỏ phân biệt đối xử giữa hàng hóa, đầu tư trong nước và ngoài nước. Chấp nhận mở cửa cả những ngành dịch vụ như viễn thông, tài chính mà trước đó đã khoanh vùng là "đất của chúa", đã rào thật kín vì "an ninh quốc gia". Những điều tưởng như không thể, nhưng rồi chúng ta đã chấp nhận, đánh đổi để mở đường cho đất nước phát triển. Năm 2007, gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), chúng ta lại tiến thêm một bước dài trên con đường hội nhập, từ hội nhập khu vực nâng thành hội nhập kinh tế toàn cầu. Kinh tế Việt Nam được ví như một con tàu ra "biển lớn". Dân tộc Việt Nam đang đi lên cùng thời đại.

Thực thi các cam kết kinh tế quốc tế, nhất là các FTA thế hệ mới như CPTPP và EVFTA. Đặc biệt, Cách mạng công nghiệp 4.0 tiếp tục phát triển mạnh mẽ, cùng với những nỗ lực từ phía Chính phủ,thúc đẩy tăng trưởng được thực hiện triệt để và quyết liệt là những điều kiện tiền đề thuận lợi cho việc đẩy nhanh quá trình tự do hóa thương mại trong giai đoạn 2020 – 2025 và những năm tiếp theo.

Tóm tắt các mốc hội nhập kinh tế quốc tế chính của Việt Nam

Các Hiệp định

Thành viên

Hiện trạng

AFTA

10 nước ASEAN

Ký năm 1992, Việt Nam tham gia năm 1995

Việt Nam - Mỹ

Việt Nam và Hoa Kỳ

Ký kết năm 2000 và thực hiện từ năm 2001

ASEAN - Trung Quốc

10 nước ASEAN và Trung Quốc

Ký năm 2004

ASEAN - Hàn Quốc

10 nước ASEAN và Hàn Quốc

Ký năm 2006; riêng Thái Lan ký năm 2009.

WTO

Việt Nam là thành viên thứ 150

Gia nhập năm 2007

ASEAN -Nhật Bản

10 nước ASEAN và Nhật Bản

Ký năm 2008

 

Việt Nam - Nhật Bản

Việt Nam và Nhật Bản

Ký năm 2008

ASEAN-Ấn Độ

10 nước ASEAN và Ấn Độ

Ký năm 2009

 

ASEAN – Úc - Niu Di-lân

10 nước ASEAN và Úc, Niu Di-lân

Ký năm 2009

Việt Nam - Chi lê

Việt Nam và Chi lê

Ký năm 2011

Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA)

Việt Nam và Hàn Quốc

Ký ngày 05 của tháng 5 trong năm 2015

Việt Nam - Liên minh thuế quan (EAEU)

Việt Nam và các nước Liên bang Nga, Cộng hòa Belarus, Cộng hòa Kazakhstan, Cộng hòa Armenia và Cộng hòa Kyrgyzstan được ký kết ngày 29/5/2015, và có hiệu lực từ ngày 05/10/2016

Ký kết ngày 29/5/2015, và có hiệu lực từ ngày 05/10/2016

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)

Gồm 11 nước thành viên là: Ốt-xtrây-li-a, Bru-nây, Ca-na-đa, Chi-lê, Nhật Bản, Ma-lai-xi-a, Mê-hi-cô, Niu Di-lân, Pê-ru, Xinh-ga-po và Việt Nam

Ký ngày 08 tháng 3 năm 2018

Việt Nam - Liên minh Châu Âu (EVFTA)

Việt Nam và khối EU

Ký ngày 30 tháng 6 năm 2019

Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA)

Việt Nam cùng Vương quốc Anh và Bắc Ireland

Hoàn tất đàm phán vào ngày 11/12/2020 và ký kết vào tối 29/12/2020.

Có hiệu lực tạm thời từ ngày 01/01/2021, và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/05/2021

Hiệp định Đối tác kinh tế toàn diện khu vực (RCEP- ASEAN+6)

10 nước ASEAN, Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ, Úc, Niu Di-lân

Ngày 15/11/2020, 15 nước thành viên RCEP (trừ Ấn Độ) đã ký kết RCEP.

-Có hiệu lực từ ngày 01/01/2022 với 06 nước ASEAN(Brunei,Campuchia,Lào,Singapore,Thái Lan, Việt Nam),và 04 nước đối tác là Trung Quốc, Nhật Bản, Australia và New Zealand.

-Có hiệu lực với Hàn Quốc ngày 1/2/2022,và Malaysia từ 18/3/2022.

 

Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Lý thuyết kinh tế đã chứng minh hội nhập kinh tế, tự do hoá thương mại sẽ có các tác động, cả trong ngắn hạn và dài hạn. Việt Nam đã thu được những lợi ích ngắn hạn của quá trình hội nhập. Tuy nhiên, các tác động mang tính chất dài hạn đối với nền kinh tế vẫn chưa được rõ ràng. Việt Nam hiện mới tham gia vào những khâu tạo ra giá trị gia tăng ít nhất trong chuỗi giá trị toàn cầu. Đó là những khâu gia công, lắp ráp, cung cấp nguyên vật liệu đầu vào. Giá trị gia tăng của hàng công nghiệp chế tạo xuất khẩu chỉ đạt khoảng 25 - 30% , hàng nông sản và khoáng sản xuất khẩu khoảng 50%, hàng thủ công mỹ nghệ khoảng 60%. Nếu tính giá trị gia tăng quốc gia, tức là phần giá trị tăng thêm người Việt Nam được hưởng thực tế thì tỉ lệ này còn thấp hơn, do các doanh nghiệp FDI chiếm gần 70% kim ngạch xuất khẩu của cả nước và một phần không nhỏ giá trị gia tăng này được nhà đầu tư nước ngoài chuyển về nước.

Bên cạnh đó, Việt Nam bị phụ thuộc rất nhiều vào nguyên liệu đầu vào cho xuất khẩu. Điều này thể hiện qua sự chênh lệch giữa tỷ trọng đóng góp của Việt Nam trong tổng giá trị gia tăng xuất khẩu toàn cầu và tỷ trọng trong tổng giá trị gia tăng nhập khẩu toàn cầu. Mặc dù đã tham gia sâu và rộng hơn vào chuỗi giá trị toàn cầu, với đóng góp 0,39% trong tổng số giá trị gia tăng xuất khẩu và 0,65% trong tổng giá trị gia tăng nhập khẩu, nhưng Việt Nam thiếu sự tự chủ về đầu vào trong các hoạt động xuất khẩu, thiếu một hệ thống các ngành công nghiệp và dịch vụ hỗ trợ hoạt động hiệu quả.

Như vậy, song quá trình hội nhập kinh tế chưa thực sự thể hiện được tác động tích cực mang tính dài hạn của nó. Bức tranh tăng trưởng của Việt Nam vẫn tiềm ẩn rủi ro. Việt Nam mới đơn thuần tận dụng được lợi ích tĩnh, mang tính ngắn hạn của quá trình hội nhập - chuyên môn hoá và gia tăng xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế so sánh hiện có - mà chưa tận dụng được các lợi ích động mang tính dài hạn, đặc biệt việc tạo động lực cho đổi mới và sáng tạo, phát huy tối đa nội lực nhằm tiến tới các vị trí có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi sản xuất toàn cầu.

Vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh cho doanh nghiệp có lẽ cần bắt đầu từ việc tạo một môi trường kinh doanh thuận lợi mà ở đó doanh nghiệp có thể hoạt động theo các quy luật của thị trường.Thực tế cho thấy môi trường kinh doanh vẫn chưa “đủ độ” và do đó tự do hoá với bên ngoài chưa thực sự đi kèm với tự do hoá các nguồn lực bên trong.

Thực hiện đồng bộ và khai thác hiệu quả các FTA đã có hiệu lực, đồng thời tích cực chuẩn bị cho việc thực thi hiệu quả các FTA thế hệ mới phải được xem là một vấn đề quan trọng. Theo đó cần tập trung :

- Tăng cường nghiên cứu các vấn đề về hội nhập kinh tế quốc tế trong quá trình hoạch định chính sách về hội nhập. Chú trọng nâng cao năng lực hội nhập quốc tế, trong đó tập trung phổ biến thông tin, nâng cao nhận thức về hội nhập quốc tế trong hệ thống chính trị, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và toàn xã hội. Triển khai hiệu quả Kế hoạch hành động thực hiện các FTA đã có hiệu lực, các cam kết với WTO và ASEAN. Tích cực chuẩn bị cho việc nghiên cứu, thực thi hiệu quả các kịch bản tham gia các FTA mới.

- Đẩy nhanh việc ban hành các văn bản quy định chi tiết thi hành các Luật, Pháp lệnh, Nghị quyết có hiệu lực. Chú trọng sửa đổi, bổ sung, ban hành mới văn bản quy phạm pháp luật phù hợp với cam kết quốc tế.

- Đổi mới mạnh mẽ việc giải quyết thủ tục hành chính cho cá nhân, tổ chức. Công khai, minh bạch hoạt động quản lý, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong việc nâng cao hiệu quả, hiệu lực của quản lý nhà nước. Thúc đẩy sự phát triển và phát huy hiệu quả vai trò thị trường trong nước, ứng dụng mạnh mẽ công nghệ thông tin trong hoạt động thương mại, phát triển mạnh thương mại điện tử và sự gắn kết giữa thương mại điện tử với các loại hình hoạt động thương mại truyền thống. Tăng cường quản lý, kiểm tra thị trường, phòng chống buôn lậu, gian lận thương mại... xử lý nghiêm vi phạm.

Trong quá trình tự do hóa thương mại, cần thấy rõ mặt tích cực, có lợi của chính sách này. Nổi bật là tăng nhập khẩu cần thiết cho công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, cho sự tăng trưởng với nhịp độ nhanh và bền vững và là một biện pháp quan trọng để cân đối cung cầu, ổn định giá cả, thị trường, kiềm chế lạm phát. Đồng thời, cần nhận thức sâu sắc mặt trái, không có lợi của tự do hóa thương mại, nhất là đối với các nước đang phát triển và chậm phát triển. Nổi bật là một số nước phát triển đã lợi dụng chính sách này để bành trướng kinh tế, lũng đoạn thị trường nước khác.

Có thể nói, chưa bao giờ nền kinh tế thế giới chứng kiến những biến động nhanh, phức tạp và khó đoán định như hiện nay. Cạnh tranh chiến lược và căng thẳng thương mại giữa một số nền kinh tế lớn ngày càng gia tăng, giá cả nhiều hàng hóa trên thị trường thế giới biến động mạnh... Mặc dù các thị trường xuất khẩu được mở rộng thông qua các hiệp định thương mại tự do (FTAs) nhưng chúng ta cũng gặp phải những khó khăn rất lớn trước sự gia tăng của chủ nghĩa bảo hộ, các hàng rào kỹ thuật và các biện pháp phòng vệ thương mại của nhiều thị trường nhập khẩu lớn của Việt Nam, cuộc chiến thương mại Mỹ - Trung và diễn biến kinh tế - chính trị phức tạp ở nhiều quốc gia và khu vực trên thế giới tạo ra thách thức lớn cho hoạt động xuất nhập khẩu nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Đến nay, Việt Nam đã tham gia đàm phán và ký kết 17 Hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 15 FTA đã ký kết và đi vào hiệu lực (Gồm các FTA: RCEP (ASEAN+6); Việt Nam - EFTA và Việt Nam - Israel). Các FTA này đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn và có quan hệ thương mại với trên 230 thị trường, trong đó có FTA với 60 nền kinh tế, qua đó tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp của Việt Nam mở rộng tiếp cận thị trường toàn cầu, là cơ hội để Việt Nam kết nối và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị và mạng lưới sản xuất toàn cầu. Trong bối cảnh chủ nghĩa bảo hộ và dân túy đang trở lại trên phạm vi toàn cầu, thành tựu này cho thấy một minh chứng nữa việc loài người có thể thịnh vượng cùng nhau thay vì bo bo giữ lấy những thành tựu riêng của quốc gia, dân tộc mình. Các “xa lộ FTA” đã được mở ra, vấn đề còn lại là chúng ta sẽ chạy trên đó bằng phương tiện gì, theo cách nào.

Hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam đã, đang và sẽ phải đối diện với nhiều khó khăn do các nước chuyển sang áp dụng nhiều hình thức mới trong phòng vệ thương mại như: chống lẩn tránh phòng vệ thương mại, gian lận xuất xứ thay vì áp dụng các hàng rào kỹ thuật như áp thuế chống bán phá giá, chống trợ cấp và tự vệ thương mại... đòi hỏi cần có sự khẩn trương nghiên cứu, thay đổi trong cách tiếp cận để kịp thời điều chỉnh, ứng phó.

Thương mại đa phương với những nguyên tắc cơ bản đã được định hình cùng với quan điểm chính sách tự do, mở cửa đang phải đối mặt với thách thức nảy sinh từ quan điểm dân tộc và chủ nghĩa bảo hộ của một số quốc gia.  Đây sẽ là thách thức không nhỏ đối với Việt Nam, một quốc gia có quy mô thương mại (xuất nhập khẩu) lớn gần gấp 2 lần GDP. Những bài học từ giai đoạn trước đây (tiến trình cải cách trong nước không tương thích với tiến trình hội nhập nên không tận dụng được hết lợi ích của hội nhập) vẫn còn nguyên giá trị của nó.

Trong việc xác định bước đi trong quá trình tự do hóa thương mại, chúng tôi thấy cần phải tính toán, cân nhắc nhiều yếu tố (có mặt mâu thuẫn nhau).

- Bảo hộ hợp lý sản xuất trong nước;

- Bảo đảm cán cân ngoại thương hợp lý, bảo đảm xuất - nhập khẩu cân bằng trong một thời gian xác định;

- Yêu cầu hội nhập với khu vực và thế giới.

Trong lĩnh vực  kinh tế đối ngoại, quá trình tự do hóa được thực hiện từng bước với việc giảm chi tiêu pháp lện từ bên trên, mở rộng quyền tự chủ cho địa phương và cơ sở trong xuất nhập khẩu, trong định giá và gần đây hạn chế đến mức tối thiểu danh mục mặt hàng khống chế hạn ngạch.

Là khâu trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, hoạt động thương mại dù ở trình độ thấp là trao đổi hiện vật hay ở trình độ cao như hiện nay cũng hướng vào mục tiêu thỏa mãn nhu cầu tiêu dùng, đều ở mức độ khác nhau có tác dụng hướng dẫn và điều tiết quá trình sản xuất. Trong mô hình kinh tế thị trường, vai trò của thương mại sẽ phát huy tác dụng mạnh mẽ khi hoạt động thương mại được tự do đối với mọi thành phần kinh tế; nhưng đó không phải là thứ tự do buôn bán bất chấp luật pháp, không chịu sự quản lý của Nhà nước làm cho thị trường trở nên rối loạn. Vì vậy, việc tổ chức sắp xếp, xác định vị trí các thành phần kinh tế tham gia lưu thông hàng hóa cho phù hợp với quá trình xã hội hóa sản xuất kinh doanh, thực hiện kiểm soát của Nhà nước đối với các hoạt động thương mại, đổi mới cơ chế, chính sách quản lý cho phù hợp với mô hình thương nghiệp nhiều thành phần là vấn đề mang tính lý luận thực tiễn cấp bách và sâu sắc.

Trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường, khuyến khích tự do hóa thương mại trong khi vẫn duy trì và tăng cường bảo vệ môi trường và các nguồn lợi tự nhiên là một trong những thử thách lớn của thập kỷ mà chúng ta đang sống. Trong nhiều trường hợp, tự do hóa thương mại thúc đẩy việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả, làm giảm sự lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng, nhưng sự “sai lệch” trong thương mại và việc gia tăng mức độ và phạm vi hoạt động của nó nhiều khi cũng có thể dẫn đến việc hủy hoại môi trường. Các nguy cơ trở thành “gánh nặng” của môi trường sinh thái không chỉ sinh ra và xuất phát do những thay đổi trong các chính sách, luật bộ thương mại dẫn đến sự “mở cửa” thị trường, mà còn có thể trầm trọng hơn do các thay đổi luật lệ, chính sách dẫn đến sự “đóng cửa” hay cách biệt hóa hoặc bảo hộ thị trường nội địa. Trong nhiều trường hợp, hậu quả mà môi trường phải gánh chịu do thúc đẩy sự tự do hóa thương mại là khó tránh khỏi, ngay cả khi có những qui chế, luật lệ chặt chẽ. Bù lại môi trường được bù đắp ở một chừng mực nào đó bằng lợi nhuận do tự do hóa thương mại đem lại.

Kiểm soát và hạn chế nhập khẩu (NK) có ý nghĩa quan trọng để cải thiện cán cân thương mại (CCTM).Tuy nhiên nếu thực thi một cách quyết liệt sẽ tác động rất lớn đến quá trình mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế. Việc hoàn thiện và đổi mới chính sách NK để khuyến khích NK cạnh tranh nhằm đổi mới công nghệ, phát triển công nghiệp phụ trợ, nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng XK và hàng sản xuất thay thế NK có thể xem là hướng đi - định hướng hợp quy luật trong bối cảnh hiện nay. Theo đó cần  tiếp tục:

- Mở rộng và đa dạng hoá thị trường NK, hạn chế sự phụ thuộc quá mức vào một số thị trường. Hết sức chú trọng các thị trường EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản - những thị trường có công nghệ cao, công nghệ nguồn.

- Có chính sách cởi mở để khuyến khích, thu hút đầu tư phát triển các ngành công nghiệp phụ trợ nhằm từng bước giảm thấp việc NK.

- Xây dựng và hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn kỹ thuật. Mở rộng hợp tác khu vực để hài hoà hoá tiêu chuẩn. Tăng cường kiểm tra tiêu chuẩn kỹ thuật đối với hàng NK nhằm hạn chế và tiến tới  loại bỏ việc NK công nghệ cũ, công nghệ lạc hậu.

Hội nhập kinh tế quốc tế đòi hỏi phải chấp nhận “Luật chơi” và “Cách chơi”. Làn sóng cải cách lần này phải thị trường hơn và nhà nước đương nhiên phải thay đổi. Đổi mới thể chế phải là một khâu đột phá, gắn kết việc đổi mới thể chế trong nước với thể chế hội nhập một cách hài hòa, nhuần nhuyễn... Thực tế cho thấy môi trường kinh doanh vẫn chưa được cải thiện nhiều và do đó tự do hoá với bên ngoài chưa thực sự đi kèm với tự do hoá các nguồn lực bên trong. Không có hệ thống pháp luật phù hợp, không có môi trường kinh doanh thì không thể khai thác được lợi thế của các FTA. Bên cạnh đó cần có bộ máy chuyên môn với chức năng nhiệm vụ rõ ràng thực thi việc theo dõi, giám sát, đánh giá hiệu lực của pháp luật và thể chế.

Cải cách thể chế môi trường kinh doanh cần có bước đi phù hợp, nhưng phải đặt trong mối quan hệ hệ thống: việc làm trước phải mở đường cho việc làm sau,  không tạo ra xung đột pháp lý và mâu thuẫn chính sách. Với xuất phát điểm thấp, nguồn lực hạn chế, nền kinh tế Việt Nam “có đặt thù riêng”, làm sao để nền kinh tế này tiếp cận với các chuẩn mực, thông lệ kinh doanh tốt của thế giới mà các nước đi trước phải mất cả vài trăm năm để có.

Luật Thương mại và các cơ chế, chính sách quản lý rất cần bổ sung và hoàn thiện nhằm tạo điều kiện thực hiện thuận lợi hóa thương mại. Luật thuế xuất, nhập khẩu cũng cần được sửa đổi cho thống nhất, đồng bộ với quy định của Hiến pháp và các bộ luật hiện hành; tương thích với các cam kết và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc đang đàm phán cũng như Chiến lược cải cách hệ thống thuế giai đoạn 2011 - 2020 đã được phê duyệt. Cùng với đó, cần tháo gỡ các vướng mắc, bất cập, chồng chéo, bảo đảm tính thống nhất, đầy đủ, đồng bộ và khả thi.

Khả năng bị kiện hay trả đũa sẽ gia tăng trong thời gian tới, vì vậy việc chuẩn bị và minh bạch hoá sổ sách, kế toán, theo dõi thông tin, phối hợp công bố thông tin, nhân lực am hiểu luật lệ, vận động hành lang, ngoại giao... sẽ là những vấn đề doanh nghiệp phải chuẩn bị. Vai trò của Việt kiều cần được phát huy cao độ để hàng Việt Nam có thể lách chân vào các thị trường ngách.

Một khu vực tư nhân được đối xử bình đẳng, cho doanh nghiệp tư nhân một tư thế, tư cách với một xã hội ngày càng công khai, minh bạch, có môi trường khởi nghiệp dựa trên nền tảng mới, song hành với việc phát triển, mở rộng hợp tác với các quốc gia và vùng lãnh thổ đi đôi với việc  củng cố, nâng cao năng lực cạnh tranh ở cả 3 phạm vi: quốc gia - doanh nghiệp - sản phẩm, thực thi tự do hoá thương mại với những bước đi và tốc độ phù hợp. Có thể nói đó chính là “kim chỉ nam ” để Việt Nam có thể  rút ngắn con đường phát triển của mình mà lịch sử thế giới phải trải qua hàng trăm năm mới có. Đây cũng có thể xem là “lối mở” hợp quy luật đối với Việt Nam trong bối cảnh hiện nay./.

Tài liệu tham khảo

1. Báo cáo Tổng kết Bộ Công Thương 2016 - 2021

2. CIEM, 2013. Đánh giá tổng thể tình hình kinh tế - xã hội Việt Nam sau 5 năm gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới. Hà Nội.

3. Hội thảo “Tự do hóa thương mại – những bài học kinh nghiệm ”, Hà nội  ngày 18 và 19/5/1992

4. Đinh Văn Thành, 2010. Tăng cường năng lực tham gia của hàng nông sản vào chuỗi giá trị toàn cầu trong điều kiện hiện nay ở Việt Nam. Hà Nội.

Vũ Huy Hùng

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOIT

 

BÀI VIẾT KHÁC