NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Thủy sản Việt Nam và quá trình thực hiện các khuyến nghị của Ủy ban Châu Âu để tháo gỡ thẻ vàng IUU

1. Quy định về chống đánh bắt hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định của Ủy ban Châu Âu:

Khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (illegal, unreported and unregulated fishing - IUU) là quy định về chống đánh bắt hải sản IUU được Ủy ban châu Âu (EC) ban hành tại Quy định số 1005/20081 có hiệu lực từ ngày 01/10/2010. Mục tiêu của IUU là nhằm thiết lập một hệ thống trên toàn châu Âu (EU) để ngăn chặn và loại bỏ việc nhập khẩu các sản phẩm thủy sản bị khai thác IUU vào thị trường EU.

Theo Uỷ ban châu Âu, hoạt động đánh bắt cá IUU là mối đe dọa lớn nhất đến việc duy trì, bảo tồn các nguồn lợi thủy sản và đa dạng sinh thái biển, gây ra những tác động nghiêm trọng về môi trường cũng như kinh tế - xã hội trên phạm vi toàn thế giới. Ước tính hoạt động đánh bắt cá IUU chiếm tới 19% tổng sản lượng cá đánh bắt trên thế giới hàng năm. Phần lớn các hoạt động đánh bắt cá IUU diễn ra ở các nước đang phát triển.

EU hiện là thị trường nhập khẩu thủy sản lớn nhất thế giới, đồng thời cũng có các nhà sản xuất, chế biến, buôn bán và xuất khẩu thủy sản lớn, với mạng lưới trao đổi khắp các châu lục. Năm 2007, EU đã nhập gần 16 tỉ Euro các sản phẩm thủy sản. Ước tính hàng năm, EU nhập khoảng 1,1 tỉ Euro các sản phẩm đánh bắt cá có được từ hoạt động IUU. Điều đó có nghĩa là: EU là thị trường tiềm năng cho các tổ chức, cá nhân đánh bắt IUU.

Nguyên nhân của đánh bắt IUU là do: thiếu cơ chế kiểm soát, truy nguyên nguồn gốc khiến các sản phẩm đánh bắt thuộc diện IUU dễ dàng được chuyển hoá qua thị trường EU.

Từ những lý do trên, việc xây dựng, ban hành và thực hiện Quy định IUU là cần thiết; thể hiện trách nhiệm của EC đối với cộng đồng quốc tế trong các nỗ lực ngăn chặn hoạt động đánh bắt cá IUU.

Năm 2002, Uỷ ban châu Âu thông qua Kế hoạch để triển khai một Kế hoạch hành động quốc tế của Tổ chức nông lương của Liên hiệp quốc (FAO) năm 2001 nhằm phòng ngừa, ngăn chặn và loại bỏ các hoạt động đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định.

Năm 2007, Uỷ ban châu Âu tổ chức thực hiện quá trình tham vấn về Quy định chống đánh bắt cá bất hợp pháp, không có báo cáo và không theo quy định IUU. Văn bản đề xuất về Quy định IUU được thông qua vào tháng 10/2007; đến ngày 24/6/2008, đã đạt được sự đồng thuận chính trị trong EU và sau đó được Hội đồng châu Âu chính thức thông qua ngày 29/9/2008 tại Quyết định số 1005/2008. Quy định IUU có hiệu lực từ ngày 01/01/2010. Thông qua Quy định này, trên toàn EU chính thức thiết lập một hệ thống đồng nhất, nhằm lựa chọn và loại bỏ việc nhập khẩu các sản phẩm hải sản bị khai thác bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định vào thị trường châu Âu.

Quy định này bao gồm 3 tiêu chuẩn với những hải sản nhập khẩu vào EU.

Đầu tiên là hoạt động đánh bắt cá trái phép, nghĩa là các tàu cá đánh bắt thủy sản ở những vùng biển trái phép hoặc cấm đánh bắt. Những tàu cá không được cấp phép đánh bắt cá hay vi phạm quy định khai thác hải sản của quốc gia, quốc tế cũng bị liệt vào nhóm trên.

Tiếp đó, IUU quy định những hoạt động khai thác hải sản cần được báo cáo với các cơ quan chức năng nhằm tuân thủ những quy định của pháp luật trong nước lẫn quốc tế.

Yếu tố cuối cùng yêu cầu các tàu đánh cá treo cờ của một quốc gia nào đó và không được khai thác quá mức, đánh bắt cá con hay tàn phá nguồn thủy sản của một khu vực.

Với quy định có hiệu lực từ năm 2010, liên minh châu âu EU hiện nay có quy định chống khai thác IUU tích cực nhất trong các khu vực nhập khẩu chính trên thế giới. Kể từ năm 2010, những quy định về IUU yêu cầu tất cả những sản phẩm hải sản nhập khẩu vào thị trường EU phải có chứng nhận khai thác, có thông tin về các loài, vị trí khai thác, tàu cá, ngày khai thác, và bất kỳ hoạt động trung chuyển nào. Trong trường hợp sản phẩm bị nghi ngờ là khai thác IUU, các quốc gia thành viên EU có thể từ chối nhập khẩu. Việc từ chối được thể hiện với hai hình thức thẻ vàng và thẻ đỏ: nếu liên minh châu Âu xác định một nước xuất khẩu thủy sản sang EU không có biện pháp phù hợp nhằm đảm bảo việc khai thác là hợp pháp, được khai báo và theo quy định thì quốc gia đó sẽ bị cảnh cáo chính thức nhận thẻ vàng. Quốc gia nhận cảnh báo thẻ vàng sẽ được EU cho phép có một khoảng thời gian để thực thi các giải pháp phù hợp nhằm giải quyết tình trạng khai thác IUU. Kết thúc thời gian cho phép, nếu đáp ứng được các điều kiện do phía EC đưa ra, quốc gia nhận cảnh báo thẻ vàng sẽ được EC xóa cảnh báo trước đó nhận thẻ xanh, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu thủy sản sang thị trường châu âu.

Ở mức độ hai: Thẻ đỏ, nếu các quốc gia không tiến hành hiệu quả việc chống khai thác IUU, kể từ khi nhận thẻ vàng, họ sẽ phải đối mặt với lệnh cấm xuất khẩu các sản phẩm hải sản khai thác sang thị trường EU. Thẻ đỏ của EC có nghĩa là toàn bộ thị trường châu âu sẽ từ chối việc nhập khẩu hải sản từ quốc gia vi phạm đồng thời nhiều khả năng sẽ kéo theo sự đóng cửa từ các thị trường khác như thị trường Hoa Kỳ, Nhật Bản.

2. Ngành thủy sản Việt Nam và những hệ lụy từ thẻ vàng của EC

Là một quốc gia ven biển nằm bên bờ Tây của biển Đông, biển Việt Nam có tính đa dạng sinh học khá cao, cũng là nơi phát sinh, phát tán của nhiều nhóm sinh vật biển vùng nhiệt đới Ấn Độ - Thái Bình Dương với chừng 11.000 loài sinh vật đã được phát hiện. Cùng hệ thống sông ngòi dày đặc và có đường bờ biển dài, Việt Nam có điều kiện rất thuận lợi trong phát triển hoạt động khai thác và nuôi trồng thủy sản. Ngành nuôi trồng và chế biến thủy sản xuất khẩu của nước ta đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn, ngành sản xuất hàng hóa lớn, đi đầu trong hội nhập kinh tế quốc tế.

Thành tựu của ngành thủy sản thể hiện bằng kết quả xuất khẩu tăng nhanh qua các năm. Năm 2011, giá trị xuất khẩu đạt khoảng 6,18 tỷ USD; năm 2015 đạt khoảng 6,7 tỷ USD; năm 2017 đạt 8,3 tỷ đô la. Sản phẩm thủy sản Việt Nam được xuất khẩu sang 165 nước và vùng lãnh thổ trong đó có ba thị trường chính là EU, Mỹ và Nhật Bản chiếm trên 60% tỷ trọng. Tuy nhiên, ngày 23/10/2017, Việt Nam đã bị Uỷ ban châu Âu (EC) cảnh cáo thẻ vàng vì không tuân thủ Quy định chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định. Điều này đồng nghĩa thủy hải sản xuất khẩu sang EU sẽ bị kiểm soát 100% thay vì kiểm tra xác xuất, tức doanh nghiệp mất nhiều chi phí phát sinh hơn. Đối với xuất khẩu thủy sản của một quốc gia, có thể xảy ra ít nhất 5 hệ lụy nếu như bị nhận thẻ vàng của EC:

Một: Xuất khẩu thủy sản sang EU sẽ giảm: Vì quốc gia xuất khẩu bị nhậnthẻ vàng, nên khách hàng bên EU sẽ rất e ngại việc bị phạt theo quy định IUU của EC nên sẽ giảm hoặc ngưng mua hàng.

Hai: Tên quốc gia bị cảnh báo sẽ được công khai trên các tạp chí và website chính thức của EU. Điều này làm xấu đi hình ảnh và ảnh hưởng xấu đến uy tín, thương hiệu của ngành hải sản nước đó.

Ba: Các thị trường khác có thể sẽ áp dụng các quy định kiểm soát nghiêm ngặt hơn dành cho nước bị EU phạt thẻ vàng (ví dụ thị trường Mỹ, quốc gia áp dụng hệ thống kiểm soát thủy sản nhập khẩu nhằm chống lại nạn khai thác IUU từ 1/1/2018. Hoặc Nhật, cụ thể, từ ngày 1/12/2022 sẽ áp dụng giấy chứng nhận, xác nhận theo quy định IUU với bốn loài thủy sản xuất khẩu vào thị trường này gồm mực ống và mực nang, cá thu đao, cá thu mackerel và cá trích. Điều này đặt ra thách thức cho các doanh nghiệp khi sử dụng nguồn nguyên liệu đánh bắt có chứng nhận.

Bốn: Trong thời gian bị thẻ vàng, 100 % công ten nơ hàng hải sản xuất khẩu từ nước bị thẻ vàng sang  EU bị giữ lại để kiểm tra nguồn gốc IUU. Việc kiểm tra sẽ khiến thời gian vận chuyển lâu, mất thêm thời gian thông quan, làm tốn thêm chi phí phát sinh, chưa kể phí lưu giữ cảng… Rủi ro nhất là tỷ lệ lớn các container hàng bị từ chối, trả lại, khiến doanh nghiệp chịu tổn thất nặng nề.

Năm: Sau 06 tháng, EC sẽ đánh giá về việc triển khai các quy định về IUU của quốc gia đó, nếu đã triển khai đầy đủ các quy định thì được gỡ bỏ thẻ vàng, nếu việc triển khai có tiến bộ thì EC có thể gia hạn để hoàn thiện các nội dung còn thiếu, nếu các khuyến nghị không được thực hiện hoặc triển khai không hiệu quả sẽ bị áp dụng thẻ đỏ cấm xuất khẩu hải sản vào EU.

Những hệ lụy trên cũng đồng thời là năm vấn đề mà Việt Nam đã, đang phải đối mặt kể từ khi nhận thẻ vàng (nhiều khách hàng truyền thống của thuỷ sản Việt Nam tại EU e ngại việc bị phạt theo quy định chống khai thác IUU của EC nên giảm hoặc ngưng nhập khẩu hải sản của Việt Nam). Thẻ vàng về khai thác IUU của EC và nguy cơ thẻ đỏ đã, đang tiếp tục là một thách thức lớn của ngành thủy sản nói riêng, ngành công nghiệp và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Theo Báo cáo “Đánh giá tác động kinh tế từ phân tích thương mại của việc không tuân thủ quy định chống khai thác IUU: Trường hợp Việt Nam” do Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (VASEP) phối hợp Ngân hàng Thế giới (WB) công bố, so sánh kết quả xuất khẩu 2017-2019, sau hai năm chịu tác động từ thẻ vàng IUU, kim ngạch xuất khẩu thủy sản sang thị trường các nước thuộc Liên minh châu Âu (EU) giảm 12%, tương đương 183,5 triệu USD. Tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủy sản giảm hơn 10% sau hai năm, tương đương giảm 43 triệu USD; trong đó, bạch tuộc giảm mạnh nhất 37%, nhuyễn thể hai mảnh vỏ giảm 11%, cá ngừ giảm gần 2%, cua giảm 11%. Xuất khẩu các sản phẩm nuôi trồng sang EU cũng giảm 13% từ năm 2017 đến năm 2019.

Xu hướng giảm này tiếp tục kéo dài hơn nữa vào năm 2020, đặc biệt do bị tác động kép bởi dịch Covid-19, thẻ vàng IUU và Brexit (Anh rời EU), xuất khẩu thủy sản sang thị trường này giảm 5,7% so năm 2019, chỉ đạt 959 triệu USD. Kể từ năm 2019, EU đã tụt từ vị trí thứ hai xuống vị trí thứ tư trong các thị trường nhập khẩu thủy sản Việt Nam, sau Mỹ, Nhật Bản và Trung Quốc. Tuy nhiên, EU vẫn là thị trường lớn có tính định hướng và chi phối đối với các thị trường khác và là đối tác quan trọng với ngành thủy sản Việt Nam.

Trong năm 2021 và 2022, tuy tổng kim ngạch xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của Việt Nam vẫn tăng cao, song tình hình xuất khẩu sang thị trường EU không ổn định. EU đã thiết lập một khuôn khổ pháp lý để quản lý đánh, bắt và nuôi, trồng thủy sản, quản lý đội tàu… Nhằm đảm bảo chất lượng và thực hiện đúng quy trình đã đề ra, với từng mặt hàng cụ thể, EU có thêm các quy định riêng. Ví dụ: Mặt hàng cá tra chịu thêm một số quy định như kiểm soát cacbon, tỷ lệ nước… Tôm phải giảm dư lượng thuốc kháng sinh và không chứa tạp chất. Mặt hàng cá ngừ chịu tác động từ các quyết định chống đánh, bắt bất hợp pháp... Đến nay, dù lượng hàng xuất khẩu sang EU không giảm nhưng do chi phí kiểm tra đội lên, làm lợi nhuận doanh nghiệp giảm đi nhưng EU vẫn là thị trường lớn có tính định hướng và chi phối đối với các thị trường khác và là đối tác quan trọng với ngành thủy sản Việt Nam.

3. Quá trình thực hiện các khuyến nghị của EC đối thủy sản Việt Nam

3.1. Các khuyến nghị của của EC đối thủy sản Việt Nam

Năm 2012, kể từ khi Tổng Vụ các vấn đề Biển và Thuỷ sản của Uỷ ban Châu Âu bắt đầu khuyến nghị Việt Nam cần phải có hành động để hoàn thiện thể chế, tăng cường kiểm tra, giám sát để phát triển nghề cá bền vững và kiểm soát hiệu quả IUU. Theo quan điểm của EU nêu trong Thông cáo, Việt Nam đã không có đủ các chế tài cần thiết để ngăn chặn hoạt động IUU, không thực hiện các hành động cần thiết để ngăn chặn việc tàu cá và ngư dân Việt Nam tham gia IUU tại vùng biển của các nước trong khu vực, trong đó có các quốc đảo đang phát triển tại Thái Bình Dương. Hơn nữa, Việt Nam cũng không có đủ công cụ để kiểm soát thủy sản tại cảng, trước khi được xuất khẩu sang thị trường các nước, trong đó có thị trường EU. Tại Thông cáo báo chí này, EU cũng cho biết đã trao đổi không chính thức với Việt Nam từ năm 2012 về vấn đề IUU và việc áp đặt “thẻ vàng” chưa đi kèm với bất kỳ biện pháp hạn chế thương mại nào đối với thủy sản của Việt Nam xuất khẩu sang thị trường EU.

Sau khi kiểm tra hàng năm, tháng 5 năm 2017, EC tiếp tục đề nghị Việt Nam cần thực hiện năm nhóm khuyến nghị đến hết tháng 9 năm 2017, nếu không Việt Nam sẽ phải đối mặt với nguy cơ bị nhận thẻ vàng của EC. Sau năm tháng, ngày 23/10/2017, Ủy ban Châu Âu (EC) đã ra Thông cáo báo chí cho biết EU đã quyết định áp đặt thẻ vàng đối với thủy sản Việt Nam Việt Nam không thực hiện đầy đủ các biện pháp cần thiết trong việc ngăn chặn và xóa bỏ IUU, đồng thời đưa ra 09 khuyến nghị yêu cầu Việt Nam cần phải thực hiện để chống khai thác IUU, gỡ “Thẻ vàng gồm:

(1) Sửa đổi khung pháp lý để đảm bảo tuân thủ các quy tắc quốc tế và khu vực áp dụng cho việc bảo tồn và quản lý nguồn lợi thủy sản; (2) Đảm bảo thực hiện và thực thi có hiệu quả pháp luật quốc gia; (3) Tăng cường việc thực hiện có hiệu quả các quy tắc quốc tế và các biện pháp quản lý thông qua một chế độ xử phạt đầy đủ được thực thi và theo dõi; (4) Khắc phục những thiếu sót đã được xác định trong thanh tra, kiểm soát và giám sát  tàu cá đáp ứng được các quy định quốc tế và khu vực và yêu cầu của EC về chứng nhận khai thác; (5) Tăng cường quản lý và cải tiến hệ thống đăng ký và cấp phép khai thác; (6) Cân bằng năng lực khai thác và chính sách phát triển tàu cá; (7) Tăng cường truy xuất nguồn gốc sản phẩm thủy sản và thực hiện tất cả các bước cần thiết, phù hợp với luật pháp quốc tế; để ngăn chặn các sản phẩm thủy sản đánh bắt bất hợp pháp được buôn bán và nhập khẩu vào Việt Nam; (8) Tăng hợp tác với các quốc gia khác phù hợp với các nghĩa vụ quốc tế; (9) Đảm bảo tuân thủ các nghĩa vụ thu thập và báo cáo số liệu cho các tổ chức quản lý nghề cá khu vực.

Để kiểm tra kết quả thực hiện các khuyến nghị, phía EC đã tổ chức 02 đợt kiểm tra thực tế tại Việt Nam vào tháng 5/2018 và tháng 11/2019. Sau thời gian kiểm tra, đoàn thanh tra của EC đã đưa ra đánh giá sơ bộ và tiếp tục đưa ra 4 nhóm khuyến nghị yêu cầu Việt Nam cần thực hiện trong thời gian tới gồm: (1) Khung pháp lý; (2) Theo dõi, kiểm tra, kiểm soát hoạt động tàu cá, quản lý đội tàu; (3) Chứng nhận sản lượng và truy xuất nguồn gốc thuỷ sản từ khai thác; (4) Thực thi pháp luật.

Từ năm 2020 đến nay, do tình hình dịch bệnh covid-19, phía EC không thể sang Việt Nam kiểm tra thực tế; Bộ Nông nghiệp và PTNT thường xuyên cập nhật, báo cáo phía EC kết quả thực hiện 4 nhóm khuyến nghị, trong đó năm 2020 đã tổ chức 02 cuộc họp trực tuyến với phía EC để trao đổi, thảo luận, giải trình và tiếp thu các ý kiến nhận xét, đánh giá của phía EC về kết quả triển khai thực hiện các giải pháp chống khai thác IUU tại Việt Nam. Trong đánh giá của phía EC đối với báo cáo cập nhật của Việt Nam, EC cho rằng vẫn còn những vấn đề nghiêm trọng trong việc thực hiện khung pháp lý mới và việc tuân thủ, đặc biệt là công tác kiểm soát tàu vi phạm vùng biển nước ngoài, thực thi quy định xử phạt hành chính đối với công tác kiểm soát tàu cá và kiểm soát thủy sản nhập khẩu vào Việt Nam nhằm đảm bảo tính hợp pháp của sản phẩm.

3.2. Kết quả thực hiện các khuyến nghị của EC

a. Về khung pháp lý và tổ chức triển khai thực hiện

* Kết quả: Hệ thống pháp luật về thủy sản đã được hoàn thiện và cơ bản đáp ứng được yêu cầu hội nhập quốc tế, đảm bảo quản lý, phát triển nghề cá bền vững, có trách nhiệm. Luật Thủy sản năm 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật (02 Nghị định của Chính phủ, 01 Quyết định của Chính Phủ, 08 Thông tư hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và PTNT) đã quy định đầy đủ các nội dung về chống khai thác IUU. Hiện Bộ Nông nghiệp và PTNT đang tiếp tục rà soát, sửa đổi, bổ sung các quy định hướng dẫn thi hành Luật phù hợp với tình hình thực tế và theo khuyến nghị của EC như Nghị định số 26/2019/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Thủy sản, Nghị định số 42/2019/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thủy sản.

Qua kết quả triển khai trên thực tế, bước đầu đã có nhiều cố gắng, tiến bộ và đạt được một số kết quả cụ thể như sau:

- Bộ Nông nghiệp và PTNT đã: Ban hành hàng trăm văn bản chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện văn bản chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ, Ban chỉ đạo quốc gia, quy định của Luật Thủy sản, các quy định về chống khai thác IUU; Thường xuyên tổ chức các Đoàn công tác kiểm tra tại địa phương, chỉ ra những tồn tại, hạn chế và có văn bản chỉ đạo, hướng dẫn địa phương khẩn trương khắc phục các tồn tại, hạn chế; đề nghị kiểm điểm trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân liên quan thiếu tinh thần trách nhiệm trong thực hiện Luật Thủy sản, các quy định về chống khai thác IUU.

- Các Bộ: Quốc phòng, Công an, Ngoại giao, Thông tin và Truyền thông, Công Thương; Ban Tuyên giáo Trung ương... đã xây dựng kế hoạch, giải pháp và tổ chức triển khai thực hiện các ý kiến chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, của Thủ tướng Chính phủ, của Trưởng Ban chỉ đạo; thường xuyên trao đổi với Bộ Nông nghiệp và PTNT để theo dõi, tổng hợp và báo cáo theo quy định.

- UBND 28 tỉnh, thành phố ven biển trực thuộc Trung ương: Đã nghiêm túc tổ chức triển khai thực hiện các ý kiến chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, của Thủ tướng Chính phủ, của Trưởng Ban chỉ đạo và các chỉ đạo, hướng dẫn của Bộ Nông nghiệp và PTNT; Đã thành lập Ban chỉ đạo của tỉnh về IUU; tập trung các nguồn lực, tổ chức triển khai các giải pháp chống khai thác IUU, khắc phục các tồn tại hạn chế tại địa phương trong công tác chống khai thác IUU; Tổ chức ký kết quy chế phối hợp để triển khai các giải pháp quản lý, kiểm soát hoạt động của tàu cá giữa các tỉnh, kịp thời trao đổi, cung cấp thông tin ngăn chặn, xử lý tàu cá của địa phương có hành vi khai thác IUU.

b. Về theo dõi, kiểm tra, kiểm soát hoạt động tàu cá, quản lý đội tàu

* Kết quả: Việc phân bổ hạn ngạch giấy phép khai thác ở vùng khơi, vùng lộng và ven bờ; quản lý tốt hạn ngạch về giấy phép khai thác. Đến nay, tổng số tàu cá toàn quốc đã thực hiện đánh dấu đạt 96,5%. Việc theo dõi, kiểm tra, kiểm soát hoạt động tàu cá trên biển cũng có chuyển biến. Tính đến ngày 25/9/2022, việc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS) đạt 95,29%, tăng 5,03% so với trước. Các tỉnh đã thực hiện có kết quả như: Quảng Ninh, Thừa Thiên Huế, Cà Mau, Thanh Hóa, Bình Định, Bình Thuận, Bến Tre, Sóc Trăng… Việt Nam đã xây dựng được cơ sở dữ liệu tàu cá (đăng ký, đăng kiểm, cấp giấy phép khai thác thủy sản). Hệ thống giám sát tàu cá,cơ sở dữ liệu giám sát tàu cá đã được kết nối, chia sẻ, được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương, đồng thời phân quyền truy cập cho các cơ quan, đơn vị chức năng liên quan của Bộ Quốc phòng để thực hiện nhiệm vụ được giao, bước đầu đã đạt được kết quả trong theo dõi, quản lý tàu cá hoạt động trên biển. Công tác quản lý đội tàu khai thác hải sản theo quy hoạch bảo vệ và khai thác ngưồn lợi thủy sản, đã có kết quả tích cực bước đầu theo hướng duy trì, không tăng số lượng tàu cá hiện có.

Việc quản lý tàu cá hiện vẫn còn bất cập, việc cập nhật quản lý đội tàu về cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia chưa đạt yêu cầu, mới chỉ đạt hơn 82% (75.235 tàu). Kết quả đánh dấu tàu còn chưa hoàn thành; Việc cấp giấy phép khai thác cho tàu cá còn thấp, đến nay, tổng số tàu đã được cấp giấy phép khai thác thủy sản mới đạt 64,35% (59.018/91.716 tàu). Công tác lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS) trên tàu cá đã đạt 95,29%. Nhưng do một số địa phương vẫn còn chủ quan, chưa quan tâm đúng mức, thiếu kiểm tra, giám sát. Nên tình trạng mất kết nối VMS vẫn diễn ra phổ biến. Nhiều tàu cá vượt ranh giới trên biển phát hiện qua VMS nhưng kết quả điều tra, xử phạt rất ít. Trung bình mỗi ngày có khoảng 400-500 tàu cá mất kết nối trên biển, không rõ nguyên nhân, nhất là có tình trạng nhiều tàu cá cố tình ngắt kết nối khi ra sát vùng ranh giới trên biển cho phép. Chính vì lơ là giám sát, khiến tình trạng ngư dân vi phạm trên các vùng biển quốc tế vẫn chưa giảm.

c. Về chứng nhận sản lượng và truy xuất nguồn gốc thuỷ sản

* Kết quả: Kiểm soát thủy sản, sản phẩm thủy sản có nguồn gốc từ khai thác từ tàu nước ngoài cập cảng Việt Nam theo quy định tại Điều 70, Nghị định số 26/2019/NĐ-CP được tăng cường; cơ bản kiểm soát được hoạt động nhập khẩu, tạm nhập, tái xuất, tạm xuất, tái nhập, chuyển khẩu, quá cảnh qua lãnh thổ Việt Nam thủy sản, sản phẩm thủy sản có nguồn gốc từ khai thác bất hợp pháp, theo đúng quy định pháp luật. Nhất là việc tổ chức kiểm dịch nhập khẩu nguyên liệu thủy sản có nguồn gốc khai thác từ tàu trung chuyển cập các cảng Việt Nam tại Cảng Cam Ranh, Cảng Cát Lái, Cảng Quốc tế Long An…; Tổ chức thực hiện việc chứng nhận, xác nhận nguồn gốc thủy sản từ khai thác hải sản đảm bảo thống nhất với hồ sơ kiểm soát tàu ra vào cảng, công tác xác nhận tại cảng cá, chứng nhận tại Chi cục Thủy sản; Cải thiện quy trình hiện hành nhằm đảm bảo kiểm soát quy trình truy xuất nguồn gốc tại nhà máy chế biến và giám sát nguyên liệu được chứng nhận được sử dụng trong các nhà máy; Đã tăng cường cơ chế phối hợp trong tổ chức đào tạo, tập huấn chuyên môn nghiệp vụ, siết chặt quản lý, thường xuyên kiểm tra các cơ sở, doanh nghiệp chế biến, xuất khẩu thủy sản, đặc biệt là nơi có lô hàng bị cảnh báo từ phía EC (năm 2018-2019 đã kiểm tra 2.297 lô thủy sản khai thác xuất khẩu vào EU, năm 2020 là 1.195 lô và năm 2021 đến nay trên gần 500 lô).

Tuy nhiên, công tác truy xuất nguồn gốc thủy sản từ khai thác (kiểm soát tàu cá ra vào cảng, bốc dỡ thủy sản tại cảng và công tác chứng nhận, xác nhận nguồn gốc thủy sản) tại nhiều địa phương còn hạn chế, chưa đảm bảo được độ tin cậy trong công tác truy xuất nguồn gốc thủy sản (như các tỉnh: Thái Bình, Quảng Ninh, Quảng Ngãi, Quảng Nam, Quảng Trị, Thanh Hóa, Nam Định, Sóc Trăng, Hà Tĩnh, Nghệ An, Tiền Giang, Bạc Liêu, Trà Vinh…); Về kiểm soát hàng thủy sản nhập khẩu mới chỉ tập trung làm tốt công tác kiểm dịch, việc thanh kiểm tra theo quy định của Hiệp định biện pháp quốc gia có cảng để đảm bảo việc kiểm soát hàng thủy sản nhập khẩu vào Việt Nam là sản phẩm hợp pháp vẫn chưa làm đúng theo yêu cầu.

d. Về thực thi pháp luật

(1) Ngăn chặn, chấm dứt tình trạng tàu cá Việt Nam vi phạm khai thác hải sản ở vùng biển nước ngoài

* Kết quả: Đã ngăn chặn, chấm dứt được tình trạng tàu cá Việt Nam vi phạm khai thác hải sản ở các nước, quốc đảo Thái Bình Dương; Tình hình tàu cá vi phạm vùng biển các nước trong khu vực như In-đô-nê-xi-a, Ma-lai-xi-a, Thái Lan… tuy có giảm so với trước nhưng chưa vững chắc. Vẫn còn nhiều vụ tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài: từ đầu năm 2022 đến nay có 62 vụ/85 tàu/704 ngư dân bị nước ngoài bắt giữ, xử lý. Trong đó đã xác định vi phạm 43 vụ/58 tàu/440 ngư dân; tại khu vực vùng biển chồng lấn, tranh chấp, vùng nước lịch sử, chưa rõ tọa độ có 19 vụ/207 tàu/264 ngư dân. Kiên Giang là tỉnh có nhiều vụ tàu cá vi phạm vùng biển nước ngoài nhất với 16 vụ/20 tàu/190 ngư dân, tập trung chủ yếu tại huyện Châu Thành, An Biên, thị xã Hà Tiên và thành phố Rạch Giá. Tỉnh Bến Tre có 6 vụ/9 tàu/53 ngư dân, tập trung tại huyện Ba Tri, Bình Đại; tỉnh Cà Mau có 6 vụ/6 tàu/41 ngư dân, tập trung tại huyện Trần Văn Thời. Còn lại là các tỉnh khác, mỗi tỉnh xảy ra từ 1-4 vụ. Các địa phương có vụ việc vi phạm đã giảm đáng kể so với trướcnhư Quảng Ngãi, Tiền Giang, Khánh Hòa đã kéo giảm đáng kể các vụ việc tàu cá vi phạm; đặc biệt là Phú Yên từ năm 2021 đến nay chưa phát hiện vụ việc vi phạm.

(2). Xử phạt vi phạm hành chính đối với vi phạm về khai thác IUU

* Kết quả:  Xử phạt các hành vi khai thác IUU đã có kết quả bước đầu, cụ thể: riêng năm 2020, các địa phương đã xử phạt 2.468 vụ với tổng số tiền xử phạt là 61.904.462.000 đồng, trong đó xử phạt hành vi: (i) Vi phạm vùng biển nước ngoài: 66 vụ với số tiền: 34.463.000.000 đồng; (ii) Vi phạm về VMS:  81 vụ với số tiền: 2.881.500.000 đồng; (iii) Vi phạm về giấy phép khai thác 01 vụ với số tiền: 700.000.000 đồng; (iv) Vi phạm về nhật ký khai thác 02 vụ với số tiền: 50.000.000 đồng. Từ đầu năm 2021 đến nay, các địa phương đã xử phạt 1.527 vụ với tổng số tiền xử phạt là 13.679.600.000 đồng.

Một số tỉnh bước đầu đã xử phạt các tàu vi phạm vùng biển nước ngoài như: Cà Mau, Kiên Giang, Bến Tre, Tiền Giang, Quảng Ngãi, Bình Định, Bình Thuận… Tuy nhiên, việc xử phạt hành chính đối với các vi phạm về khai thác IUU chưa thật sự nghiêm minh, đặc biệt là xử phạt đối với hành vi vi phạm vùng biển nước ngoài với tỉ lệ các vụ việc được xử lý còn rất thấp so với thực tế.

4. Nhiệm vụ và giải pháp nhằm gỡ cảnh báo ‘thẻ vàng” thủy sản trong thời gian tới

Việc Ủy ban châu Âu cảnh báo “Thẻ vàng” đã ảnh hưởng tiêu cực đến hoạt động xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang thị trường châu Âu, gián tiếp tác động đến đời sống, sinh kế của cộng đồng ngư dân ven biển; đặc biệt ảnh hưởng đến uy tín, hình ảnh của quốc gia trên trường quốc tế. Đảng, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và Ban chỉ đạo quốc gia về IUU đã ban hành nhiều văn bản chỉ đạo các Ban, Bộ, Ngành Trung ương và 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển tổ chức triển khai các giải pháp chống khai thác IUU với quan điểm nhất quán về nhận thức và hành động, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị để ngăn chặn, loại bỏ khai thác IUU, coi đây là nhiệm vụ ưu tiên, cấp bách, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo. Trong các cuộc tiếp xúc cấp cao của lãnh đạo Đảng, Chính phủ, Quốc hội luôn khẳng định quyết tâm chính trị, nỗ lực của Việt Nam trong ngăn chặn, loại bỏ khai thác IUU, phát triển ngành khai thác thủy sản bền vững, có trách nhiệm và hội nhập quốc tế.

Các Ban, Bộ, Ngành Trung ương có liên quan và 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển đã tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chống khai thác IUU, gỡ cảnh báo “Thẻ vàng” trong thời gian qua và cũng đã được phía Ủy ban Châu Âu (EC) ghi nhận. Trong thời gian vừa qua, công tác chống khai thác IUU, gỡ cảnh báo “Thẻ vàng” đã đạt được một số kết quả như: hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về thủy sản, về chống khai thác IUU được xây dựng đầy đủ, đồng bộ; Công tác quản lý đội tàu có tiến bộ, phân bổ theo hạn ngạch, đã giảm dần số lượng tàu cá; việc lắp đặt thiết bị giám sát hành trình (VMS) trên tàu cá đạt tỷ lệ cao; công tác tuần tra, kiểm soát trên các vùng biển trọng điểm đã được tăng cường, ngăn chặn, xử lý kịp thời nhiều vụ việc tàu cá vi phạm khai thác bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài; công tác truy xuất nguồn gốc thủy sản khai thác bước đầu đạt được kết quả tích cực...

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn nhiều tồn tại, hạn chế chậm khắc phục trong tổ chức triển khai thực hiện, cụ thể: việc cấp Giấy phép khai thác thủy sản chưa hoàn thành (vẫn còn 3,3% số lượng tàu từ 15 mét trở lên, 53,4% số lượng tàu từ 6 đến dưới 15 mét chưa được cấp phép); tốc độ lắp đặt thiết bị VMS trong năm vừa qua rất chậm (mới tăng được 5,01%); Thực thi pháp luật, điều tra, xử phạt các hành vi khai thác IUU chưa triệt để, thống nhất, đồng bộ; Bố trí nguồn lực (nhân lực, kinh phí, trang thiết bị) tại địa phương để thực hiện chưa được quan tâm đúng mức; đặc biệt, tình trạng tàu cá, ngư dân vi phạm khai thác bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài có xu hướng tăng và diễn biến phức tạp.

Để giải quyết các tồn tại, hạn chế trên nhằm sớm gỡ cảnh báo “Thẻ vàng”, đồng thời để đảm bảo chuẩn bị tốt cho việc tiếp, làm việc với Đoàn thanh tra của EC trong tháng 10, ngày 26 tháng 9 năm 2022, Văn phòng Chính phủ ban hành Thông báo số 302/TB-VPCP về kết luận của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành  tại cuộc họp lần thứ sáu Ban Chỉ đạo Quốc gia về chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), trong đó yêu cầu cần tập trung triển khai thực hiện các nhiệm vụ trước mắt, các giải pháp trọng tâm, lâu dài, mở đợt cao điểm kiểm tra như sau:

Chủ tịch Ủy ban nhân dân (UBND) các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển: trước ngày 20 tháng 10 năm 2022 khẩn trương rà soát, khắc phục các tồn tại, hạn chế trong thực hiện nhiệm vụ chống khai thác IUU tại địa phương; quản lý chặt chẽ tàu cá hoạt động trên biển; đảm bảo truy xuất được nguồn gốc; thực thi pháp luật, xử lý nghiêm các vi phạm quy định về chống khai thác IUU.

Rà soát, xử lý dứt điểm các tồn tại về cấp Giấy phép khai thác thủy sản, kiểm soát tàu cá ra vào cảng, lắp đặt thiết bị VMS, các vụ việc vi phạm khai thác bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài… đảm bảo chuẩn bị đầy đủ các hồ sơ theo dõi, kiểm soát, điều tra, xử lý từng vụ việc theo quy định,..

Bộ Nông nghiệp và PTNT: Tổ chức các Đoàn công tác liên ngành (Bộ Quốc phòng, Bộ Công an) đi kiểm tra tại một số địa phương, đặc biệt là tại các tỉnh có tàu cá vi phạm khai thác bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài, các tỉnh có nguy cơ cao Đoàn thanh tra của EC sẽ kiểm tra thực tế để đôn đốc, hướng dẫn các nội dung cần chuẩn bị để tiếp và làm việc với Đoàn thanh tra của EC; khẩn trương xây dựng báo cáo tiến độ, kịch bản, kế hoạch để tiếp và làm việc với Đoàn thanh tra của EC đảm bảo giảm thiểu xảy ra các tình huống bị động ảnh hưởng đến kết quả làm việc với Đoàn thanh tra của EC.

Bộ Quốc phòng: Chỉ đạo các lực lượng chức năng thực thi pháp luật trên biển (Hải quân, Biên phòng, Cảnh sát biển, Kiểm ngư) trong các tháng 9, 10/2022 tiếp tục mở đợt cao điểm tuần tra, kiểm tra, kiểm soát tại các vùng biển trọng điểm để ngăn chặn, xử lý kịp thời các vụ việc vi phạm quy định về chống khai thác IUU; đặc biệt kiên quyết, xử phạt nghiêm hành vi vi phạm khai thác bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài; tăng cường kiểm tra, kiểm soát tàu cá xuất nhập bến phải đảm bảo đủ điều kiện theo quy định pháp luật; kiên quyết xử phạt vi phạm hành chính các trường hợp vi phạm.

Bộ Công an: Khẩn trương rà soát, củng cố các hồ sơ điều tra các hành vi môi giới, móc nối đưa tàu cá, ngư dân Việt Nam đi khai thác bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài; đảm bảo an toàn, an ninh trước, trong và sau thời gian Đoàn Thanh tra EC làm việc tại Việt Nam.

Các Ban, Bộ, Ngành Trung ương và địa phương khẩn trương xây dựng và thực hiện chiến dịch thông tin truyền thông về chống khai thác IUU trước, trong và sau khi Đoàn thanh tra của EC sang kiểm tra thực tế tại Việt Nam, đảm bảo sự minh bạch, trung thực của Việt Nam trong chống khai thác IUU.

Ngoài việc triển khai thực hiện các nhiệm vụ trước mắt trên, còn có các giải pháp trọng tâm, lâu dài sau:

Người đứng đầu các Ban, Bộ, Ngành Trung ương và 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển: Quán triệt, tổ chức triển khai thực hiện nghiêm túc, có kết quả các chỉ đạo của Thường trực Ban Bí thư, các Chỉ thị, Công điện, Kết luận của Thủ tướng Chính phủ và Trưởng Ban chỉ đạo quốc gia về IUU; thường xuyên kiểm tra, giám sát, tăng cường công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị chức năng để tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả,..

Bộ Nông nghiệp và PTNT: Tiếp tục rà soát, kịp thời sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về thủy sản nói chung, về chống khai thác IUU nói riêng; tăng cường công tác quản lý tàu cá theo hướng giảm dần số lượng tàu, cường lực khai thác tương ứng với ngư trường, nguồn lợi thủy sản; tập trung kiện toàn lực lượng Kiểm ngư, tăng cường thực thi pháp luật, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về thủy sản trên các vùng biển.

Chủ trì, phối hợp với các Bộ: Quốc phòng, Công an, Ngoại giao… tổ chức các Đoàn công tác liên ngành làm việc với các nước sở tại bắt giữ, xử lý tàu cá, ngư dân Việt Nam để nắm bắt tình hình và điều tra, xử lý dứt điểm các vụ việc vi phạm khai thác bất hợp pháp ở vùng biển nước ngoài; kiên quyết đấu tranh các trường hợp lực lượng chức năng nước ngoài bắt giữ, xử lý trái phép tàu cá, ngư dân Việt Nam; tiếp tục tổ chức các Đoàn công tác kiểm tra, giám sát tình hình triển khai các quy định chống khai thác IUU tại địa phương,..

UBND 28 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ven biển: Tập trung nguồn lực triển khai đồng bộ các giải pháp để ngăn chặn, chấm dứt tình trạng vi phạm quy định về chống khai thác IUU trên địa bàn; bám sát, nắm vững địa bàn quản lý và tuyên truyền, vận động người dân tuân thủ pháp luật, có kế hoạch theo dõi, quản lý chặt chẽ các đối tượng, nắm chắc địa bàn để phát hiện, ngăn chặn kịp thời các tàu cá đi khai thác hải sản trái phép ở vùng biển nước ngoài.

Đồng thời, khẩn trương rà soát, quản lý, kiểm soát chặt đội tàu cá của địa phương theo quy định; thực hiện nghiêm túc hạn ngạch Giấy phép khai thác thủy sản; hoàn thành việc cấp Giấy phép khai thác thủy sản, đăng ký, đăng kiểm, đánh dấu tàu cá, lắp đặt thiết bị VMS theo quy định; thực hiện nghiêm túc, đúng quy định việc kiểm soát tàu cá ra vào cảng, giám sát sản lượng thủy sản từ khai thác, truy xuất nguồn gốc thủy sản. 

Phối hợp chặt chẽ giữa các địa phương để theo dõi, kiểm soát và xử lý tàu cá của tỉnh hoạt động trên địa bàn của tỉnh khác để ngăn chặn, xử lý kịp thời hành vi khai thác IUU; tiếp tục thông tin, tuyên truyền các quy định pháp luật cho ngư dân và các tổ chức, cá nhân có liên quan để nâng cao ý thức tuân thủ pháp luật, không vi phạm quy định về chống khai thác IUU.

Đinh Thị Bích Liên

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại -VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC