NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Thị trường bán lẻ và việc ứng dụng chuyển đổi số trong ngành bán lẻ

16/01/2024

 

1. Đặc điểm của thị trường bán lẻ

Thị trường bán lẻ là thị trường mà ở đó diễn ra hoạt động bán lẻ, trong đó những người bán lẻ và người tiêu dùng là hai tác nhân chính của thị trường bán lẻ, sẽ tiến hành hoạt động mua bán hàng hóa trong một khuôn khổ pháp lý nhất định.

Kênh phân phối của thị trường bán lẻ bao gồm:

- Người sản xuất: là người trực tiếp sản xuất ra hàng hóa, đôi khi người sản xuất cũng là người bán hàng hóa tới tay người tiêu dùng không cần qua trung gian.

- Người trung gian: là những người tham gia vào việc phân phối hàng hóa tới người tiêu dùng. Người trung gian có thể gồm đại lý môi giới, người bán buôn, người bán lẻ (cửa hàng tự chọn, cửa hàng tiện lợi, bách hóa tổng hợp, cửa hàng tạp hóa, cửa hàng đại hạ giá, cửa hàng chuyên doanh, cửa hàng giới thiệu sản phẩm của công ty, hợp tác xã tiêu thụ), bán lẻ thông qua hệ thống chợ truyền thống, siêu thị, siêu thị mini, siêu thị chuyên doanh và siêu thị tổng hợp, đại siêu thị, trung tâm thương mại…

- Người tiêu dùng là người cuối cùng nhận được hàng hóa đó với mục đích để tiêu dùng.

Đặc điểm của thị trường bán lẻ:

- Bán lẻ là một kết nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu dùng, thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội. Bán lẻ giữ vai trò trong việc giải quyết mâu thuẫn cơ bản trong khâu phân phối hàng hóa, mâu thuẫn giữa sản xuất khối lượng lớn, chuyên môn hóa sâu với nhu cầu tiêu dùng theo khối lượng nhỏ và đa dạng, sự khác biệt về không gian giữa sản xuất và tiêu dùng, sự khác biệt về thời gian do thời gian sản xuất và thời gian tiêu dùng không trùng khớp.

- Hàng hóa, dịch vụ của các nhà phân phối bán lẻ thường là khối lượng nhỏ, chủ yếu phục vụ trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng.

- Nhà phân phối bán lẻ chia sẻ rủi ro với các nhà sản xuất, họ mua hàng hóa từ nhà sản xuất với giá thấp từ đó tự chịu trách nhiệm trong việc phân phối tới tay người tiêu dùng để thu được lợi nhuận. Ngoài ra, các nhà sản xuất còn được nhà bán lẻ cung cấp những thông tin cần thiết nhu cầu tiêu dùng, thị hiếu, xu hướng để điều chỉnh sản xuất phù hợp, giảm thiệt hại về kinh tế. Hoạt động phân phối bán lẻ giúp làm tăng thêm giá trị hàng hóa đã được sản xuất.

- Hoạt động bán lẻ ngoài việc cung cấp cho người tiêu dùng đúng chủng loại hàng hóa mà họ cần, đúng thời gian, địa điểm và mức giá phù hợp mà còn cung cấp các dịch vụ khác như địa điểm thuận tiện, bảo đảm về giao hàng, điều kiện bảo hành, các thông tin về môi trường kinh doanh… giúp người tiêu dùng đưa ra quyết định chính xác hơn khi mua hàng.

- Thông qua hệ thống phân phối bán lẻ và sự phát triển của thị trường bán lẻ, Nhà nước thực hiện hiệu quả các chức năng điều tiết và kiểm soát thị trường như điều tiết cung - cầu hàng hóa, kiểm soát hàng giả, hàng kém chất lượng, gian lận thương mại, kiểm soát giá cả trên thị trường. Sự phát triển của thị trường bán lẻ giúp Nhà nước điều chỉnh chỉ số giá tiêu dùng phù hợp với tình hình trong nước và thế giới nhằm tăng trưởng kinh tế và kìm chế lạm phát.

2. Một số mô hình kinh doanh phân phối bán lẻ

2.1. Phân loại mô hình kinh doanh phân phối bán lẻ thông qua loại hình kinh doanh

- Mô hình bán lẻ qua cửa hàng:

Mô hình này gồm nhiều cửa hàng độc lập, cửa hàng tạp hóa, cửa hàng chuyên dụng, siêu thị, trung tâm thương mại…Đây là những nơi kinh doanh có địa điểm cố định để thu hút các khách hàng xung quanh khu vực đó.

Các cửa hàng thường bán nhiều loại hàng hóa khác nhau, mỗi quy mô sử dụng các phương tiện truyền thông đại chúng để quảng cáo. Có những cửa hàng chuyên kinh doanh các mặt hàng chuyên biệt phục vụ nhu cầu của các tổ chức, doanh nghiệp như các cửa hàng văn phòng phẩm, cửa hàng máy tính và phần mềm, cửa hàng vật liệu xây dựng, cửa hàng vật tư điện, nước…Mục đích của các cửa hàng bán lẻ là giúp tăng doanh thu và cung cấp những mặt hàng cho người tiêu dùng.

- Mô hình bán lẻ không qua cửa hàng:

Mô hình này sẽ không có cơ sở kinh doanh cố định, mọi giao dịch chủ yếu thông qua tivi, internet, máy bán hàng tự động…, trừ máy bán hàng tự động, mọi loại hình còn lại đều không có địa điểm cụ thể. Ưu điểm của mô hình này không phải nhập hàng, trữ hàng với số lượng lớn, chỉ cần nhập hàng mẫu hoặc lấy ảnh của nhà cung cấp để cho khách hàng xem, khi nào ưng ý thì mới lấy hàng về giao cho khách hàng. Nhược điểm của mô hình này là không kiểm soát được lượng hàng nên bị thụ động, nhiều trường hợp khách hàng cần thì hàng trong kho đã hết hoặc không được sản xuất nữa.

- Mô hình bán lẻ thông qua bưu chính:  

Mô hình này cung cấp dịch vụ đặt hàng qua điện thoại và Website, sau đó sản phẩm sẽ được giao cho khách hàng thông qua bưu điện. Hình thức này phổ biến với những khách hàng ở xa khu vực mua sắm, những người già không thể đến mua trực tiếp. Mô hình bán lẻ qua bưu chính thường được áp dụng cho những mặt hàng thông thường, hàng hóa chuyên biệt, hàng hóa mới lạ, hàng đặt mua dài hạn… những loại hàng hóa này không yêu cầu người kinh doanh phải đầu tư văn phòng, cửa hàng hay nhà kho.

- Mô hình bán hàng online:

Internet đã giúp cho ngành bán lẻ thực sự thay đổi, đồng thời là phương tiện kết nối các doanh nghiệp, thị trường với cá nhân người tiêu dùng. Bất kỳ cửa hàng nào cũng sử dụng những kênh thương mại điện tử hay mạng xã hội để tiếp cận nhiều khách hàng hơn và gia tăng doanh số. Hiện nay, rất nhiều đơn vị bán hàng vận hành song song hai phương thức kinh doanh tại cửa hàng và kinh doanh online.

- Mô hình nhượng quyền thương mại:

Mô hình nhượng quyền thương mại đã phát triển rất mạnh tại nước ta, đặc biệt là thương hiệu đồ ăn nhanh. Mô hình này tạo thành chuỗi cửa hàng phân phối hàng hóa, phủ rộng thương hiệu. Hiện nay trên thị trường, các cửa hàng tiện lợi với các thương hiệu lớn như Circle K, Family Mart và Shop&Go đang mở rộng rất nhanh tại các thành phố lớn của Việt Nam như Hà Nội, Đà Năng, Tp. Hồ Chí Minh. Sắp tới, nhượng quyền thương mại sẽ phổ biến trong một số lĩnh vực về giáo dục và đào tạo, dịch vụ giải trí, sức khỏe, chăm sóc sắc đẹp…

2.2. Phân loại dựa vào hình thức bán hàng

- Bán lẻ thu tiền tập trung: hình thức bán hàng này sẽ tách rời việc thu tiền và giao hàng. Mỗi quầy hàng có một nhân viên thu tiền làm nhiệm vụ thu tiền, viết hóa đơn hoặc viết tích kê cho khách hàng, sau đó khách đến quầy nhận hàng do nhân viên bán hàng giao. Hêt ngày hay hết ca bán hàng, nhân viên bán hàng căn cứ vào hóa đơn và tích kê giao hàng cho khách hoặc kiểm kê hàng hóa quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày, trong ca và lập báo cáo bán hàng. Nhân viên thu tiền sẽ làm giấy nộp tiền cho thủ quỹ.

- Bán lẻ thu tiền trực tiếp: Đây là hình thức mà nhân viên bán hàng trực tiếp thu tiền và giao hàng cho khách. Hết ngày, hết ca, nhân viên bán hàng làm giấy và nộp tiền cho thủ quỹ, đồng thời kiểm kê hàng hóa tồn trong quầy để xác định số lượng hàng đã bán trong ngày, trong ca và lập báo cáo bán hàng.

- Bán lẻ tự phục vụ: Với hình thức này, khách hàng sẽ tự lựa chọn hàng hóa, mang đến bàn tính tiền và thanh toán tiền hàng. Nhân viên thu tiền kiểm hàng, tính tiền, lập hóa đơn bán hàng và thu tiền của khách hàng. Nhân viên bán hàng có trách nhiệm hướng dẫn khách hàng và bảo quản hàng hóa ở quầy do mình phụ trách. Hình thức này thường được áp dụng trong các siêu thị.

- Bán hàng trả góp: hình thức này người mua được mua hàng và thanh toán nhiều lần. Người bán hàng hay các doanh nghiệp ngoài việc thu tiền theo giá bán còn được một khoản lãi do người mua trả chậm. Người bán sẽ chỉ mất quyền sở hữu khi người mua thanh toán hết tiền hàng. Về mặt hạch toán, khi giao hàng cho người mua, hàng hóa bán trả góp đã được coi là đã tiêu thụ và ghi vào doanh thu bán hàng.

- Gửi đại lý bán hay ký gửi hàng hóa: Đây là hình thức bán hàng mà trong đó doanh nghiệp thương mại giao hàng cho cơ sở đại lý, ký gửi để các cơ sở này trực tiếp bán hàng. Các cơ sở đại lý, ký gửi sẽ được hưởng hoa hồng đại lý. Số hàng giao cho cơ sở đại lý, ký gửi vẫn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thương mại cho đến khi doanh nghiệp thương mại được cơ sở đại lý, ký gửi thanh toán tiền hàng đã được bán.

3. Ứng dụng chuyển đổi số trong ngành bán lẻ

Chuyển đổi số trong ngành bán lẻ đang làm thay đổi nhanh chóng cách người tiêu dùng tham gia mua sắm. Chuyển đổi số là việc sử dụng các công nghệ số để thay đổi mô hình kinh doanh, tạo ra những cơ hội, doanh thu và giá trị mới. Chuyển đổi số ngành bán lẻ là quá trình gắn kết con người và công nghệ, thay đổi mô hình doanh nghiệp truyền thống sang mô hình vận hành hiện đại của doanh nghiệp số dựa trên những ứng dụng công nghệ mới như Big Data, Internet vạn vật, điện toán đám mây…

Cách mạng công nghiệp lần thứ tư với các bước tiến lớn về công nghệ sẽ thúc đẩy nhanh quá trình tự động hóa, hình thành các mạng lưới chia sẻ tài nguyên thông tin, dữ liệu trên diện rộng, kết nối cả về không gian và thời gian. Thị trường bán lẻ có xu hướng vận động theo hướng thuộc về người mua và người mua ngày càng có nhiều công cụ hiện đại để lựa chọn cả ở kênh bán hàng hiện đại và truyền thống. Những thay đổi về nhân khẩu học và thói quen, hành vi của người tiêu dùng có thể sẽ ảnh hưởng lớn đến thị trường bán lẻ. Tỷ lệ người sử dung Internet ở Việt Nam lên đến mức 75% dân số và tỷ lệ người mua sắm trực tuyến lên tới 60%.

Bên cạnh sự phát triển của thương mại truyền thống, trong 5 năm tới, thương mại điện tử và các nền tảng thanh toán trực tuyến được ứng dụng rộng rãi và phát triển mạnh mẽ sẽ dần thay thế thương mại truyền thống, trở thành một kênh phân phối quan trọng, góp phần thay đổi thói quen mua sắm của người tiêu dùng. Mua sắm trực tuyến giúp người mua hàng có thể chốt đơn hàng ở bất kỳ đâu và vào thời điểm nào, do vậy tăng tỷ lệ mua hàng so với việc tiếp cận của người mua hàng khi đến các cửa hàng truyền thống.

Năm 2022, quy mô thị trường thương mại điện tử bán lẻ Việt Nam đạt gần 17 tỷ USD, chiếm 8% doanh thu hàng hóa và dịch vụ tiêu dùng cả nước. Kinh doanh trực tuyến đang là bước tiến giúp doanh nghiệp ngành bán lẻ trụ vững trong thời kỳ số hóa và có các xu hướng như sau:

- Chuyển đổi từ kênh bán hàng truyền thống sang kênh bán hàng hiện đại, từ các cửa hàng, quầy bán hàng, doanh nghiệp chuyển sang tập trung xây dựng các kênh bán hàng onlien trên các nền tảng mạng xã hội.

- Quy trình kinh doanh gắn với dịch vụ số hóa như số hóa tài liệu, hồ sơ, thông tin khách hàng, hóa đơn chứng từ, cho phép thanh toán điện tử, sử dụng dịch vụ giao hàng tận nơi, cho phép người tiêu dùng tích điểm, nhận mã giảm giá, hoàn tiền…

- Quá trình quản lý và chăm sóc khác hàng nhờ dữ liệu lưu trữ trên điện toán đám mây, phần mềm hỗ trợ…để quá trình quản lý và chăm sóc khách hàng diễn ra tự động.

- Ứng dụng công nghệ hiện đại như tích hợp phần mềm quản lý hàng hóa, tài chính để quản lý và vận hành doanh nghiệp.

Nhìn chung, thị trường bán lẻ Việt Nam sẽ có những bước nhảy vọt, phát triển các cửa hàng bán hàng thông qua thương mại điện tử, cửa hàng bán hàng tự động để bắt kịp xu thế chung của thị trường bán lẻ thế giới. Bên cạnh đó, thị trường bán lẻ Việt Nam cũng sẽ phát triển nhanh với các thói quen tiêu dùng mới như thanh toán không tiền mặt, trong đó thanh toán không dùng tiền mặt sẽ chiếm tỷ trọng cao trong các giao dịch thanh toán thương mại bán lẻ. Xu hướng cạnh trranh về công nghệ giữa các nhà bán lẻ để cải thiện độ tiện ích trong thanh toán trực tuyến sẽ là xu hướng chủ đạo trong năm tới.

4. Một số chính sách quản lý bán lẻ điện tử tại Việt Nam

Nghị định số 85/2021/NĐ-CP ngày 25/9/2021 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 52/2013/NĐ-CP ngày 16/5/2013 về thương mại điện tử trong đó có bán lẻ điện tử. Nghị định số 85/2021/NĐ-CP quy định cụ thể hơn về thông tin hàng hóa, dịch vụ phải công bố trong giao dịch thương mại điện tử, tăng cường trách nhiệm của thương nhân, tổ chức cung cấp dịch vụ thương mại điện tử trong việc quản lý các giao dịch trên nền tảng của mình, thu hẹp đối tượng thực hiện thủ tục thông báo với Bộ Công Thương. Quản lý hoạt động thương mại điện tử trên mạng xã hội, quản lý người bán nước ngoài trên sàn giao dịch thương mại điện tử, thương nhân, tổ chức nước ngoài hoạt động cung cấp dịch vụ thương mại điện tử tại Việt Nam, điều kiện tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài, hoạt độngchứng thực hợp đồng điện tử.

Theo quy định hiện hành, chưa có luật thuế riêng trong thương mại điện tử cũng như luật thuế riêng trong bán lẻ điện tử. Chính sách thuế đối với thương mại điện tử ở Việt Nam bao gồm thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu nhập cá nhân. Các cá nhân là công dân Việt Nam hay cá nhân nước ngoài phát sinh thu nhập từ các giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam và tại các trang mạng của Việt Nam cũng như các trang mạng quốc tế đề phải kê khai và nộp thuế thu nhập cá nhân. Ngoài ra, các nhà bán lẻ điện tử phải nộp khoản phí môn bài nếu doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở lên căn cứ theo Nghị định số 139/2016/NĐ-CP và Thông tư số 302/2016/TT-BCT.

Trong Nghị định 85/2021/NĐ-CP bổ sung các quy định so với Nghị định số 52/2013/NĐ-CP về thương mại điện tử, quy định về thông tin hàng hóa phải công khai trên các website thương mại điện tử, tăng cường trách nhiệm của chủ sở hữu các sàn giao dịch thương mại điện tử trong quản lý hoạt động thương mại điện tử trên sàn; quản lý người bán hàng nước ngoài trên sàn giao dịch thương mại điện tử tại Việt Nam. Từ đó giúp kiểm soát, ngăn chặn tình trạng hàng giả, hàng nhái trên các nền tảng thương mại điện tử để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Nghị định số 17/2022/NĐ-CP bổ sung các chế tài xử lý đối với những hành vi vi phạm liên quan tới hoạt động thương mại điện tử đã được quy định trong Nghị định số 98/2020/NĐ-CP.

Nghị định số 22/2017/NĐ-CP về hòa giải thương mại là một trong những văn bản pháp lý có nội dung về hòa giải thương mại trực tuyến, bước đầu hình thành giải quyết tranh chấp trực tuyến. Tuy nhiên, phạm vi tranh chấp, trình tự, thủ tục và giá trị pháp lý của các quyết định giải quyết tranh chấp chưa được cụ thể hóa và chưa có hướng dẫn cụ thể.

5. Một số thách thức khi chuyển đổi số trong ngành bán lẻ

- Cạnh tranh mạnh mẽ với các nhà bán lẻ nước ngoài: thị trường bán lẻ Việt Nam đang thu hút rất nhiều nhà đầu tư từ các thương hiệu bán lẻ nổi tiếng quốc tế thông qua mua bán và sáp nhập. Như vậy để có thể cạnh tranh và đứng vững trên thị trường, các nhà bán lẻ của Việt nam phải có những cải cách, đầu tư vốn cho công nghệ hiện đại, nâng cao trải nghiệm của người tiêu dùng trong hoạt động kinh doanh bán lẻ.

- Phối hợp chưa chặt chẽ trong chuỗi cung ứng, lực lượng trong chuỗi cung ứng gồm nhà sản xuất, nhà phân phối và nhà bán lẻ. Lực lượng này sẽ phối hợp và làm việc theo những tiêu chuẩn thống nhất nhằm phục vụ khách hàng, nhưng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ, chưa có nhiều kinh nghiệm thì sự phối hợp thiếu tính chặt chẽ, gắn kết giảm hiểu quả trong kinh doanh bán lẻ.

- Hình thức bán lẻ truyền thống vẫn chiếm tỉ lệ khá lớn, nhiều doanh nghiệp hiện nay vẫn tiếp tục duy trì hình thức bán hàng truyển thống, từ đó dẫn đến nguồn hàng hóa chưa phong phú, thiếu tính cạnh tranh cả về hàng hóa và giá cả. Quá trình kiểm soát chất lượng chưa đảm bảo và chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.

- Công nghệ còn chưa được đầu tư thích đáng, một số doanh nghiệp tuy đã có những hiểu biết về chuyển đổi số, xong chưa tìm kiếm được giải pháp công nghệ phù hợp. Nhiều doanh nghiệp chưa biết bắt đầu từ đâu, chuyển đổi mô hình theo hướng chuyển đổi số và vận hành như thế nào để đạt hiệu quả nhất.

- Khó khăn trong việc tìm hiểu nhu cầu khách hàng do nhu cầu của khách hàng luôn biến động và thay đổi theo từng giai đoạn. Việc nắm bắt thị hiếu của khách hàng đòi hỏi các doankh nghiệp bán lẻ cần tìm ra các phần mềm công nghệ phù hợp để phân tích, khai thác dữ liệu hiệu quả để hiểu rõ thay đổi của khách hàng. Nhiều phần mềm công nghệ chưa đáp ứng được trong hoạt động kinh doanh bán lẻ, cản trở quá trình chuyển đổi số của các doanh nghiệp.

6. Giải pháp ứng dụng chuyển đổi số trong ngành bán lẻ

- Cần rà soát, hoàn thiện pháp luật về thương mại điện tử trong đó có hoạt động thương mại điện tử qua biên giới đang trở nên phổ biến như hiện nay. Xây dựng các chính sách, văn bản quy phạm pháp luật theo hướng tạo điều kiện, khuyến khích, hỗ trợ các hoạt động ứng dụng thương mại điện tử và các mô hình kinh doanh mới trên nền tảng công nghệ số.

- Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp ứng dụng công nghệ số vào hoạt động kinh doanh, phát triển các mô hình dịch vụ thương mại điện tử, sàn giao dịch điện tử dựa trên ứng dụng công nghệ tiên tiến, đảm bảo đối xử bình đẳng giữ mô hình kinh doanh truyền thống với mô hình kinh doanh ứng dụng công nghệ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, phù hợp với pháp luật quóc tế về giao dịch thương mại điện tử.

- Xây dựng thị trường công nghệ số, thương mại điện tử có tính cạnh tranh và phát triển bền vững. Thu hẹp khoảng cách giữa các thành phố lớn và địa phương về mức độ phát triển thương mại điện tử, thúc đẩy phát triển thương mại điện tử tại khu vực nông thôn. Phát triển và ứng dụng công nghệ số, hỗ trợ quá trình chuyển đổi số của doanh nghiệp, đẩy mạnh các giao dịch thương mại điện tử trong nước và ra ngoài quốc gia.

- Tập trung phát triển hạ tầng kỹ thuật thiết yếu cho các hoạt động thương mại dựa trên công nghệ số và thương mại điện tử như mạng Internet, các hình thức thanh toán điện tử, thanh toán qua máy POS, thanh toán online…Khuyến khích các thành phần kinh tế, các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nền tảng công nghệ số cho phát triển thương mại điện tử. Xây dựng hệ thống thanh toán hiện đại phục vụ các hình thức thương mại mới dựa trên nền tảng số hóa, đảm bảo an toàn trong giao dịch thương mại cho doanh nghiệp, người tiêu dùng, đảm bảo an ninh và lợi ích quốc gia.

- Phát triển đồng bộ các hệ thống kết cấu hạ tầng thương mại, cần kết hợp hài hòa, hợp lý giữa kết cấu hiện đại và truyền thống, phù hợp với tính chất và trình độ, quy mô, tương lai phát triển của từng địa bàn, khu vực thị trường, nhanh chóng thực hiện chuyển dịch hệ thống phân phối bán lẻ sang các loại hình phân phối hiện đại, ứng dụng công nghệ số vào hoạt động kinh doanh của các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện lợi, cửa hàng chuyên doanh.

- Tăng cường hoạt động quản lý, giám sát hàng hóa trên không gian mạng, nhằm tạo niềm tin cho người tiêu dùng trong hoạt động mua sắm trực tuyến, bảo vệ các thương nhân, tổ chức kinh doanh lành mạnh và thúc đẩy thương mại điện tử phát triển. Hoàn thiện chính sách, pháp luật về chống hàng giả và bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử, nâng cao hiệu quả bảo vệ người tiêu dùng trong hoạt động thương mại điện tử,mua bán trực tuyến, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của doanh nghiệp và người tiêu dùng, từ đó thúc đẩy phát triển thương mại bền vững tại Việt Nam.

- Phát triển hệ sinh thái chuyển đổi số trong các doanh nghiệp với mục tiêu tọa ra cộng đồng doanh nghiệp số, hỗ trợ doanh nghiệp chuyển đổi số, thay đổi tư duy, cách thức vận hành của doanh nghiệp trong quá trình chuyển đổi số, hướng doanh nghiệp tới sự phát triển bền vững trên nền tảng số.

TS. Trần Thị Thu Hiền

Phòng Thông tin và xúc tiến thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC