NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế carbon thấp ở Trung Quốc và bài học cho Việt Nam (Phần 2)

Tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế carbon thấp ở Trung Quốc và bài học cho Việt Nam (Phần 1)

Mô hình phát triển nền kinh tế carbon thấp của Trung Quốc được vạch ra dựa trên 5 trụ cột chính sau đây :

Trụ cột 1: Nền công nghiệp carbon thấp

Tối ưu hóa và tái cấu trúc cơ cấu công nghiệp: Trung Quốc phấn đấu tăng dần tỷ trọng ngành công nghiệp dịch vụ, đồng thời phát triển các ngành công nghệ cao và công nghiệp môi trường tiết kiệm năng lượng. Trong trung và dài hạn, sự phát triển và ứng dụng công nghệ mới sẽ là chìa khóa cho hoạt động tiết kiệm năng lượng và giảm phát thải. Xây dựng và đẩy mạnh một hệ thống hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi sang công nghệ các bon thấp: đẩy mạnh hỗ trợ tài chính cho các cơ sở nghiên cứu và phát triển; cung cấp các giải pháp về tài trợ của chính phủ, giảm thuế, cho vay ưu đãi; và khuyến khích thương mại, thiết lập một giá cho carbon, cấp quyền nhượng quyền thương mại, mua sắm chính phủ và nâng cao tiêu chuẩn và thực hiện quy định.

Trụ cột 2: Phát triển mô hình thành phố carbon thấp

Phát triển mạnh hệ thống giao thông công cộng và tối ưu hóa cấu trúc giao thông đô thị. Chính sách cụ thể bao gồm: (i) Đẩy mạnh giao thông công cộng đô thị, hạn chế tốc độ tăng trưởng của giao thông cá nhân. (ii) Đẩy mạnh sự phát triển của đường sắt trong nội đô thành phố và đường cao tốc giữa các thành phố để tạo thành hệ thống giao thông đa chiều; (iii) Tiếp tục nâng cao tiêu chuẩn về hiệu quả nhiên liệu đối với xe cơ giới, và phát triển mạnh mẽ phương tiện carbon thấp như xe điện.

Phát triển mô hình các tòa nhà đô thị carbon thấp. Chính sách cụ thể bao gồm: (i) xây dựng tiêu chuẩn hiệu suất năng lượng, tiết kiệm năng lượng (ii) Tăng cường các sáng kiến bảo tồn năng lượng cho các tòa nhà hiện có, khuyến khích các công ty dịch vụ năng lượng cải thiện các công trình công cộng hiện có; (iii) Hỗ trợ R & D và thương mại hóa vật liệu xây dựng tiết kiệm năng lượng; (iv) khuyến khích người tiêu dùng hướng tới các sản phẩm tiết kiệm năng lượng hay các thiết bị, tòa nhà carbon thấp; (v) trình diễn mô hình của các khối nhà tiết kiệm năng lượng, carbon thấp.

Trụ cột 3: Tối ưu hóa cơ cấu năng lượng và phát triển năng lượng carbon thấp

Khoảng 90% lượng phát thải khí nhà kính ở Trung Quốc đến từ việc tiêu thụ nguồn nhiên liệu hóa thạch. Vì vậy, tối ưu hóa cơ cấu năng lượng và phát triển năng lượng carbon thấp hơn đóng vai trò quan trọng giúp giảm GHG. Theo kịch bản carbon thấp, lĩnh vực năng lượng sẽ giúp làm giảm lượng khí thải CO2 380 triệu tấn, 830 triệu tấn và 1,59 tỷ vào năm 2020, năm 2030 và 2050. Để hiện thực được mục tiêu này, Trung Quốc cần giảm dần tỷ trọng than trong tiêu thụ năng lượng, tích cực phát triển việc sử dụng thủy điện, điện hạt nhân và các nguồn năng lượng tái tạo. Một số biện pháp được áp dụng bao gồm:

- Tăng hiệu quả trong sử dụng than: (i) tỷ lệ sử dụng than trong tiêu thụ năng lượng sẽ giảm từ 70% xuống dưới 50% vào năm 2030, và khoảng 33% vào năm 2050. (ii) tăng cường đổi mới công nghệ tiên tiến trong các nhà máy điện sử dụng nhiên liệu hóa thạch. (iii) phát triển mạnh mẽ các thế hệ nhà máy điện mới không sử dụng nhiên liệu hóa thạch.

- Chuyển đổi hành vi để giảm nhiên liệu carbon: Trung Quốc đang hướng tới ngành giao thông carbon thấp như xe điện, nhiên liệu sinh học và phát triển hệ thống giao thông công cộng. Đến năm 2020, năm 2030 và năm 2050, tỷ lệ tiêu thụ khí đốt tự nhiên trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp đạt khoảng 8%, 12% và 14%.

- Triển khai trên quy mô lớn nguồn năng lượng carbon thấp. Trung Quốc đẩy nhanh việc xây dựng thủy điện, điện hạt nhân và năng lượng gió, thúc đẩy thương mại hóa năng lượng mặt trời vào năm 2020. Công suất phát điện carbon thấp sẽ đạt khoảng 550 triệu KW, chiếm 35% tổng công suất.

Để khuyến khích sử dụng năng lượng mặt trời, Bộ Tài chính Trung Quốc quyết định từ ngày sẽ hoàn trả 50% thuế giá trị gia tăng đối với các sản phẩm điện sử dụng năng lượng mặt trời. Quyết định này sẽ giúp tăng lợi nhuận của các nhà sản xuất tấm pin năng lượng mặt trời của Trung Quốc.

Trụ cột 4: Mô hình tiêu thụ bền vững

Tại Trung Quốc tiêu thụ cacbon thấp được mô tả thông qua nguyên tắc 6R “Reduce - Reevaluate - Reuse - Recycle - Rescue - Re calculate”. Tăng cường khuôn khổ thể chế bằng cách ban hành "Luật tiêu thụ bền vững" và "Luật mua sắm xanh". Đẩy mạnh nghiên cứu về tiêu chuẩn khí thải carbon ở khía cạnh tiêu thụ. Hỗ trợ tài chính cho người tiêu dùng các sản phẩm xanh sẽ được tăng lên trong ngắn hạn. Trợ cấp cho các sản phẩm sử dụng điện hiệu quả, xe ô tô năng lượng mới. Trong trung và dài hạn, thuế thải carbon sẽ được thiết kế và thực hiện. Một kế hoạch nâng cao nhận thức quốc gia và các hoạt động giáo dục sẽ được triển khai trong thời gian tới, bao gồm nâng cao nhận thức của cộng đồng, doanh nghiệp và hệ thống giáo dục. Giải thưởng quốc gia sẽ được thực hiện như “doanh nghiệp xanh”, “cộng đồng xanh” “trường học xanh". Trung Quốc sẽ thiết lập một hệ thống thông tin công khai liên quan đến pháp luật, tiêu chuẩn, thủ tục tố tụng hành chính, công nghệ và các sản phẩm.

Trụ cột 5: Quản lý sử dụng đất và khả năng hấp thụ carbon

Trong những năm gần đây, lượng carbon được lưu trữ trong các hệ sinh thái trên cạn của Trung Quốc đã tăng khoảng 190 - 260 triệu tấn mỗi năm, tương đương với khoảng 28% - 37% tổng lượng khí thải carbon của ngành công nghiệp ở Trung Quốc. Do đó hấp thụ carbon là một khía cạnh quan trọng đối với nền kinh tế carbon thấp. Có 03 khía cạnh sẽ được chú trọng: Tăng hấp thụ cacbon của rừng  - Tăng hấp thụ cacbon trong đất trồng trọt - Duy trì và tăng hấp thụ cacbon trong đồng cỏ.

Từ việc định hình mô hình cacbon thấp như trên, nhằm thúc đẩy nhanh tiến trình xây dựng, chính phủ Trung Quốc đã ban hành và thực thi một số chính sách sau:

 (i) Cải cách giá năng lượng để phản ánh cung cầu thị trường, chi phí môi trường

Ba lĩnh vực đã được xác định: (i) thiết lập giá cả cạnh tranh trong lĩnh vực năng lượng (ii) phản ánh chi phí bên ngoài và tiêu thụ tài nguyên của phát triển năng lượng (iii) hệ thống trợ cấp được thực hiện minh bạch và dần dần được xóa bỏ, cụ thể là:

Than: Các biện pháp tính toán chi phí cần được cải tổ, theo đó phí sử dụng trữ lượng than đá, sản xuất an toàn, phục hồi môi trường, chuyển giao các mỏ than và chi phí y tế cần được đưa vào giá thành than.

Điện: Giá điện nên dần dần được thiết lập bởi thị trường. Chi phí điện phân phối  dần trở thành độc lập. Vấn đề trợ cấp cho chi phí bán lẻ điện phải được dần dần giải quyết. Trong tương lai gần các chi phí phụ trội liên quan đến năng lượng tái tạo phải được phân bổ kịp thời.

Dầu và khí thiên nhiên: chính phủ đã thiết lập chi phí bán lẻ theo giá quốc tế. Trong trung và dài hạn, thị trường bán buôn được tự do hóa để tạo ra một thị trường giá cả cạnh tranh. Chi phí nhà máy dầu và khí đốt tự nhiên chuyển dần từ chính phủ quy định sang để thị trường thiết lập, trong khi đạt được một mức giá hợp lý hơn thông qua điều chỉnh thuế tài nguyên.

Nhiệt: Thúc đẩy và khuyến khích cung cấp nhiệt, các dự án sưởi ấm, làm mát kết hợp hiệu quả hơn. Hệ thống sưởi ấm và làm mát sử dụng nên được tính bằng hộ gia đình, và giá cả được thiết lập theo nguyên tắc "trả cho những gì bạn sử dụng".

(ii) Xây dựng một hệ thống thuế xanh và tăng chi tiêu ngân sách cho sự phát triển của nền kinh tế carbon thấp.

Kết hợp chi phí môi trường và suy thoái tài nguyên trong việc định giá năng lượng. Điều này bao gồm: tăng phí ô nhiễm; tăng phạm vi thu; từng bước thay thế phí ô nhiễm bằng các loại thuế ô nhiễm; và đảm bảo "người gây ô nhiễm phải trả tiền".

Thuế carbon sẽ được bắt đầu sớm để thiết lập một mức giá ổn định cho sự đổi mới carbon thấp và thương mại hóa trên quy mô lớn. Trước mắt không đặt quá cao nhưng khi nền kinh tế tiếp tục phát triển và co sự chấp nhận của xã hội, thuế carbon sẽ được điều chỉnh lên.

Hỗ trợ tài chính cho tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và đổi mới công nghệ carbon thấp, bao gồm:

- Các sản phẩm và công ty tiết kiệm năng lượng sẽ được giảm thuế hoặc trợ cấp trực tiếp; và tiết kiệm năng lượng sẽ được coi trọng hơn trong mua sắm chính phủ.

- Giảm thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng với thiết bị năng lượng tái tạo; cung cấp các khoản trợ cấp cho các hộ gia đình mua tấm lợp năng lượng mặt trời hoặc máy phát điện gió nhỏ.

- Tăng cường đầu tư nghiên cứu và phát triển carbon thấp; cung cấp giảm thuế cho các doanh nghiệp thực hiện carbon thấp nghiên cứu và phát triển và đổi mới công nghệ.

- Tăng cường các kênh tài trợ: Trong tương lai gần, các quỹ của chính phủ hiện tại phải được tổ chức lại và tiêu chuẩn hóa với định hướng chuyển dịch sang các quỹ xây dựng, phát triển năng lượng bền vững, tập trung vào tiết kiệm năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo và đổi mới công nghệ. Trong trung và dài hạn, một phần doanh thu từ thuế nhiên liệu, năng lượng và carbon bổ sung có thể được phân bổ cho quỹ phát triển bền vững.

(iii) Hỗ trợ cho đổi mới công nghệ, phổ biến và hợp tác quốc tế

- Thành lập viện nghiên cứu năng lượng quốc gia, thực hiện nghiên cứu cơ bản, phát triển, thử nghiệm và chứng nhận.

- Nâng cao hơn nữa các chính sách khuyến khích đổi mới công nghệ. Tiếp tục thực hiện các chính sách tự lực, các thiết bị trong dự án lớn phải có nguồn gốc trong nước, để thúc đẩy nội địa hóa. Thi hành các kế hoạch điều chỉnh ngành công nghiệp sản xuất thiết bị, thiết lập và sử dụng các cơ chế bồi thường rủi ro cho các thiết bị sản xuất mới.

 (iv) Cải thiện và tăng cường thực thi pháp luật, quy định, tiêu chuẩn

- Hoàn thiện pháp luật về sản xuất và chuyển giao năng lượng, tiết kiệm năng lượng, chất thải rắn và ngành lâm nghiệp: ban hành và thực hiện Luật Năng lượng, rà soát và tiếp tục khuyến khích các quy định về carbon thấp trong ngành than, điện, tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo

- Nâng cao tiêu chuẩn năng lượng.Cải thiện các chỉ tiêu thiết kế cho tiết kiệm năng lượng trong các ngành công nghiệp tiêu thụ năng lượng chính và các tiêu chuẩn tiết kiệm năng lượng; xây dựng và cải thiện các tiêu chuẩn cho việc kiểm soát hệ thống sưởi và làm mát các tòa nhà.

- Từng bước thực hiện hệ thống ghi nhãn "dấu chân carbon" và dần dần mở rộng phạm vi của chương trình này.Nâng cao nhận thức cộng đồng để chuyển sang tiêu thụ các sản phẩm carbon thấp, khuyến khích các doanh nghiệp phát triển các sản phẩm này.

(v) Nâng cao chất lượng thống kê và đo lường về năng lượng và carbon

- Cải thiện điều tra về năng lượng và phương pháp kiểm toán để tăng tính khoa học của số liệu thống kê thu thập được. Tăng cường và chuẩn hóa các hoạt động thống kê năng lượng ở cấp cơ sở, để tăng độ chính xác.

- Kiểm tra khí thải năng lượng và các sản phẩm phát thải trong các ngành công nghiệp chủ chốt. Khuyến khích các doanh nghiệp khác tính toán lượng phát thải khí nhà kính của họ theo tiêu chuẩn quốc tế.Các hiệp hội công nghiệp được khuyến khích để giám sát tốc độ đổi mới công nghệ, và sử dụng công nghệ carbon thấp.

Bài học rút ra cho Việt Nam

Việt Nam có thể học hỏi rất nhiều từ kinh nghiệm Trung Quốc trong việc xác lập các mục tiêu ưu tiên phù hợp.

1. Có sự can thiệp chủ động của Chính phủ để xây dựng khung thể chế Tài nguyên và Môi trường pháp lý bền vững cho TTX, ban hành những chính sách, kế hoạch điều tiết thống nhất, thúc đẩy sự thay đổi trong thực tế. Ngoài ra, sự can thiệp của Chính phủ có thể tối đa đa hoá sức mạnh và sự ảnh hưởng của thị trường đối với TTX , cũng như  một hệ thống khuyến khích phù hợp với sự tham gia của khu vực tư nhân.

2. Để chiến lược TTX thành công cần có sự kết hợp hài hoà và hiệu quả từ trên xuống cũng như từ dưới lên. Giải pháp toàn diện từ trên xuống sẽ giúp chia sẻ tầm nhìn và làm rõ những mục tiêu trung đến dài hạn về TTX, có thể tư vấn và hợp tác, thuyết phục các bên liên quan và thúc đẩy sự phối hợp hiệu quả giữa các bộ, ngành đối với các địa phương liên quan. Sự chủ động tham gia của cộng đồng từ dưới lên sẽ tạo một nền tảng bền vững cho TTX. Vì vậy, phải có những chính sách thể hiện rõ các hành động có sự tham gia cũng như gia tăng ý thức cộng đồng với TTX, cùng những biện pháp chủ động để thay đổi hành vi của cộng đồng. Việc phổ biến TTX đối với các địa phương và khu vực nông thôn trên phạm vi quốc gia là việc làm rất cần thiết. Khi đã có sự ủng hộ của hệ thống chính trị cao cấp, sự tham gia của Chính phủ, của cộng đồng thì bước tiếp theo đó là huy động sự hợp tác toàn cầu.

3. Những vấn đề như BĐKH không nằm ở một quốc gia và một quốc gia không thể giải quyết được vấn đề này.Vì vậy, cần có sự huy động nguồn lực từ các đối tác khác nhau ở nước ngoài, chia sẻ kiến thức giữa các quốc gia láng giềng và nhà lãnh đạo toàn cầu, và phổ biến những bài học kinh nghiệm tốt tới nhiều quốc gia.

4.  Phải có sự phối kết hợp đồng bộ của nhiều cơ chế, chính sách, áp dụng luật pháp, chế tài, công cụ kinh tế, khuyến khích, khen thưởng… đặc biệt là chính sách với các doanh nghiệp.

Nguồn: Models and Policy Suytem for LCE development in China

Tài liệu tham khảo

Tiếng Việt

1.Quy tắc thương mại quốc tế và biến đổi khí hậu. Mutrap- NXB Đại học sư phạm; Hà Nội 2011

2. UNEP (2013) Kinh tế xanh và thương mại: Xu hướng, cơ hội và thách thức”

Tiếng Anh

BAO, J.-Q., MIAO, Y. & CHEN, F. 2008. Low Carbon Economy: Revolution in the Way of Human Economic Development [J]. China Industrial Economics, 4, 017.

BRENTON, P., EDWARDS-JONES, G. & JENSEN, M. 2008. Carbon labelling and low income country exports: an issues paper.

BRENTON, P., EDWARDSJONES, G. & JENSEN, M. F. 2009. Carbon Labelling and Lowincome Country Exports: A Review of the Development Issues. Development Policy Review, 27, 243-267.

PANDEY, D., AGRAWAL, M. & PANDEY, J. S. 2011. Carbon footprint: current methods of estimation. Environmental monitoring and assessment, 178, 135-160.

STECHEMESSER, K. & GUENTHER, E. 2012. Carbon accounting: a systematic literature review. Journal of Cleaner Production, 36, 17-38.

Vũ Huy Hùng

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC