NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Tăng trưởng xanh, phát triển kinh tế carbon thấp ở Trung Quốc và bài học cho Việt Nam (Phần 1)

Thúc đẩy phát triển hàng hóa carbon thấp là góp phần vào giảm thiu khí thải nhà kính, thực hiện xanh hóa nền kinh tế. Việc các quốc gia chủ động trong việc hướng tới nền kinh tế carbon thấp là một hướng đi mang tính đón đầu, góp phần giảm thiểu các nguy cơ do biến đổi khí hậu gây ra. Hơn nữa, người tiêu dùng đang ngày càng có các yêu cầu cao về việc được sử dụng các sản phẩm an toàn với khí hậu, các doanh nghiệp ngày càng có trách nhiệm đối với việc phát thải khí nhà kính đã mở ra những hướng đi mới cho ngành công nghiệp hàng hóa carbon thấp. Vì thế xem xét kinh nghiệm phát triển kinh tế carbon thấp là cần thiết cho Việt Nam đang trong tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Biến đổi khí hậu (BĐKH) là một trong những vấn đề toàn cầu đang nhận được quan sự tâm sâu sắc của các nước trên thế giới. Biến đổi khí hậu đang và sẽ tác động sâu sắc đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội trên phạm vi toàn cầu trong hiện tại cũng như tương lai lâu dài. Chính vì vậy, ứng phó với BĐKH  là nghĩa vụ và trách nhiệm của mọi quốc gia trên thế giới.

Trong bối cảnh BĐKH đang ngày càng trở nên phức tạp, chính sách quốc tế về BĐKH đang rơi vào ngõ cụt trong việc tìm ra một tiếng nói chung cho hành động toàn cầu thì việc các quốc gia chủ động trong việc hướng tới nền kinh tế carbon thấp là một hướng đi mang tính đón đầu, đảm bảo giảm thiểu các nguy cơ có thể của các rào cản carbon trong tương lai, đặc biệt là các yêu cầu về hàm lượng các bon trong hàng hóa, tiếp cận sớm hơn với các công nghệ thân thiện, góp phần giảm thiểu các nguy cơ do biến đổi khí hậu gây ra.

Là quốc gia có lượng phát thải cao nhất trên thế giới, hiện Trung Quốc đang phải đối mặt với áp lực trong nước và quốc tế với yêu cầu giảm mức khí thải. Trong khi đó, quốc gia này cũng phải cố gắng duy trì mức tăng trưởng kinh tế hàng năm 7%, bất chấp cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu, giá cả leo thang và nguy cơ bất ổn xã hội tăng cao.

Kế hoạch 5 năm mới đây của Trung Quốc mang đầy tham vọng với cam kết giảm cường độ sử dụng năng lượng (năng lượng tiêu thụ trên một đơn vị GDP) xuống 16% và giảm cường độ phát thải CO2 (tính trên một đơn vị GDP) xuống 17% so với năm 2010. Kế hoạch này cũng đặt ra mục tiêu cho các công ty hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ môi trường và tiết kiệm năng lượng với mức tăng trưởng hàng năm 15% và mức tổng sản lượng đạt 720 tỷ USD trước năm 2015 (tương đương 2% GDP - Bản tin môi trường số 2-2017-Bộ Công Thương).

Để đạt được kế hoạch đề ra, Trung Quốc đã tập trung áp dụng chính sách tăng trưởng xanh (TTX), tập trung vào 6 nhóm chính sách chủ yếu sau: chính sách về năng lượng, chính sách công nghiệp, chính sách thị trường, chính sách tiêu dùng với sự tham gia trực tiếp của khu vực công trong thực hiện các hành động xanh và luật về mua sắm công  xanh, chính sách về đầu tư (như đầu tư công về hạ tầng năng lượng); các chính sách về đổi mới công nghệ xanh trong công nghiệp và năng lượng, cuối cùng là các các chính sách quản lý (Wilfried Lütkenhorst  2014).

Trước hết, Trung Quốc đã xây dựng các chính sách và chương trình cụ thể, tập trung vào ban hành các tiêu chuẩn quy định cho hàng hóa tiết kiệm năng lượng (TKNL). Nhãn TKNL được áp dụng bắt buộc cho một số hàng hóa như điều hòa không khí, tủ lạnh, máy giặt, balast đèn huỳnh quang. Từ năm 2010 đã thực hiện dán nhãn đối với hàng hóa là nồi cơm điện, quạt điện..v.v.

Tăng cường khuôn khổ thể chế: "Luật tiêu thụ bền vững" và "Luật mua sắm xanh" được ban hành. Hỗ trợ tài chính cho người tiêu dùng các hàng hóa xanh được tăng lên trong ngắn hạn. Trợ cấp cho các hàng hóa sử dụng điện hiệu quả, xe ô tô năng lượng mới. Trong trung và dài hạn, thuế thải carbon và thuế môi trường sẽ được thiết kế và thực hiện.

Kế hoạch nâng cao nhận thức quốc gia và các hoạt động giáo dục đã được triển khai, bao gồm nâng cao nhận thức của cộng đồng, doanh nghiệp (DN) và hệ thống giáo dục. Trong trung và dài hạn, một Giải thưởng quốc gia sẽ được thực hiện như “DN xanh”, “Cộng đồng xanh”, “Trường học xanh".

Trung Quốc thiết lập một hệ thống thông tin công khai liên quan đến pháp luật, tiêu chuẩn, thủ tục tố tụng hành chính, công nghệ và các hàng hóa.

Theo định hướng trên, Chính phủ Trung Quốc đã ban hành và thực thi một số chính sách sau đây:

 (i) Xây dựng một hệ thống thuế xanh và tăng chi tiêu ngân sách cho sự phát triển của nền kinh tế carbon thấp.

Kết hợp chi phí môi trường và suy thoái tài nguyên trong việc định giá năng lượng. Điều này bao gồm: tăng phí ô nhiễm; tăng phạm vi thu; từng bước thay thế phí ô nhiễm bằng các loại thuế ô nhiễm và đảm bảo "người gây ô nhiễm phải trả tiền".

Thuế carbon sẽ được bắt đầu sớm để thiết lập một mức giá ổn định cho sự đổi mới carbon thấp và thương mại hóa trên quy mô lớn. Trước mắt không đặt quá cao nhưng khi nền kinh tế tiếp tục phát triển và co sự chấp nhận của xã hội, thuế carbon sẽ được điều chỉnh lên.

Hỗ trợ tài chính cho tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo và đổi mới công nghệ carbon thấp, bao gồm:

- Các hàng hóa và công ty tiết kiệm năng lượng sẽ được giảm thuế hoặc trợ cấp trực tiếp và tiết kiệm năng lượng sẽ được coi trọng hơn trong mua sắm chính phủ.

- Giảm thuế nhập khẩu và thuế giá trị gia tăng với thiết bị năng lượng tái tạo; cung cấp các khoản trợ cấp cho các hộ gia đình mua tấm lợp năng lượng mặt trời hoặc máy phát điện gió nhỏ.

- Tăng cường đầu tư nghiên cứu và phát triển carbon thấp; cung cấp giảm thuế cho các DN thực hiện carbon thấp nghiên cứu và phát triển và đổi mới công nghệ.

- Tăng cường các kênh tài trợ: Trong tương lai gần, các quỹ của chính phủ hiện tại phải được tổ chức lại và tiêu chuẩn hóa với định hướng chuyển dịch sang các quỹ xây dựng, phát triển năng lượng bền vững, tập trung vào tiết kiệm năng lượng, phát triển năng lượng tái tạo và đổi mới công nghệ. Trong trung và dài hạn, một phần doanh thu từ thuế nhiên liệu, năng lượng và carbon bổ sung có thể được phân bổ cho quỹ phát triển bền vững.

(ii) Cải thiện và tăng cường thực thi pháp luật, quy định, tiêu chuẩn

- Hoàn thiện pháp luật về sản xuất và chuyển giao năng lượng, tiết kiệm năng lượng, chất thải rắn và ngành lâm nghiệp: ban hành và thực hiện Luật Năng lượng, rà soát và tiếp tục khuyến khích các quy định về carbon thấp trong ngành than, điện, tiết kiệm năng lượng, năng lượng tái tạo.

- Từng bước thực hiện hệ thống ghi nhãn "dấu chân carbon" và dần dần mở rộng phạm vi của chương trình này. Nâng cao nhận thức cộng đồng để chuyển sang tiêu thụ các hàng hóa TTMT, khuyến khích các DN phát triển các hàng hóa này.

Trung Quốc đã hình thành lộ trình phát triển xe điện ở cấp quốc gia từ năm 2009, với mục tiêu giảm bớt lượng khí thải. Nhưng nay quốc gia đông dân nhất thế giới này đang tiến lên trở thành nước sản xuất xe điện lớn nhất thế giới, một phần để sử dụng trong nước, phần khác để xuất khẩu. Sự thành công trong các chính sách khuyến khích đã tạo nên sức mạnh cho Trung Quốc. Tháng 12-2017, Bộ Tài chính nước này đã cho phép tiếp tục miễn thuế mua xe ô tô sử dụng năng lượng mới (NEV) trong ba năm tới như là một phần trong nỗ lực của nước này khuyến khích việc tiêu thụ xe sử dụng năng lượng xanh. Các xe được miễn thuế bao gồm xe điện, xe lai (hybrid) và xe chạy bằng pin nhiên liệu được phép bán ở Trung Quốc và quyết định này sẽ có hiệu lực đến cuối năm 2020 nhằm gia hạn chính sách miễn thuế được triển khai vào năm 2014, bổ sung vào đó Trung Quốc sẽ đưa thêm các mẫu xe NEV mới vào danh sách các loại xe được miễn thuế, đến chừng nào chúng đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng, an toàn và hiệu suất.

Trung Quốc đang chi những khoản trợ cấp khổng lồ cho các nhà sản xuất xe điện và sản xuất pin. Bắc Kinh đã xem xét việc đưa ra thời biểu cấm các phương tiện vận chuyển sử dụng xăng dầu, và dự báo rằng tất cả các phương tiện sẽ hoàn toàn sử dụng điện kể từ 2030, bao gồm các loại xe hành khách.

Chính phủ Trung Quốc dự báo đến năm 2025 thị trường ô tô năng lượng mới của nước này sẽ đạt đến 35 triệu chiếc, các luật lệ tiêu chuẩn hóa việc sử dụng năng lượng mới sẽ bắt đầu được áp dụng kể từ năm 2018 . Theo những quy định này, các nhà sản xuất ô tô tại đây cũng phải bán một tỷ lệ xe điện tăng nhất định theo từng năm, hoặc là bản thân công ty phải tự sản xuất xe điện, hoặc phải đặt hàng gọi là “tín dụng” cho các công ty sản xuất xe điện làm thay.

Trung Quốc đã chuẩn bị cho kế hoạch phát triển xe điện ở tầm mức quốc gia từ năm 2009 nhưng đến 2014 mới đưa ra được các chính sách khuyến khích đầy tham vọng, không chỉ áp dụng cho xe sử dụng trong nước mà cả cho xuất khẩu. Người ta gọi tham vọng dẫn đầu ngành kỹ nghệ xe điện thế giới là một “giấc mơ Trung Hoa”, mặc dầu những gói trợ giá là khối tài chính khổng lồ.

Các nội dung cơ bản trong chính sách năng lượng của Trung Quốc, bao gồm: ưu tiên tiết kiệm tài nguyên, dựa vào các nguồn tài nguyên trong nước; phát triển đa dạng các nguồn năng lượng; thúc đẩy sự phát triển khoa học công nghệ trong ngành công nghiệp năng lượng, đặc biệt quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình phát triển; và tăng cường hợp tác quốc tế vì lợi ích chung.

Luật năng lượng Tái tạo của Trung Quốc được coi là bộ luật định hướng cho sự phát triển của ngành năng lượng tái tạo. Bộ luật đã cung cấp một loạt các ưu đãi tài chính: quỹ quốc gia để thúc đẩy phát triển năng lượng tái tạo, cho vay, ưu đãi về thuế cho các dự án năng lượng tái tạo; yêu cầu các nhà khai thác lưới điện mua các nguyên liệu từ các nhà sản xuất năng lượng tái tạo đã đăng ký. Sự kết hợp giữa đầu tư và các chính sách ưu đãi đã tạo điều kiện cho những bước tiến lớn trong việc phát triển năng lượng gió và năng lượng mặt trời của Trung Quốc. Để trực tiếp khuyến khích sản xuất tua-bin gió ở các địa phương, Trung Quốc đã thực hiện chính sách khuyến khích liên doanh và chuyển giao công nghệ trong công nghệ tua-bin gió lớn và bắt buộc sử dụng các sản phẩm tua-bin gió của địa phương trong các công trình.

Cùng với Luật Năng lượng tái tạo, các quy định khuyến khích giảm giá  thông qua mô hình giá cả cạnh tranh đấu thầu cũng được sử dụng cho thị trường điện gió ở Trung Quốc. Chính phủ đã điều chỉnh lại các bảng giá dầu mỏ và than nhằm khuyến khích việc giảm tiêu thụ các loại năng lượng này; đồng thời xây dựng một loạt các biện pháp khác nhau về thuế quan và tài chính. Để nâng cao nhận thức của người dân về những lợi ích trong việc sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, nhiều chiến dịch truyền thông trên truyền hình cả ở cấp trung ương lẫn địa phương đã được thực hiện. Trung Quốc cũng đã tổ chức nhiều hội thảo và chiến dịch truyền thông, đặc biệt phải kể tới “Tuần lễ tiết kiệm năng lượng” hay những cuộc triển lãm về công nghệ giảm cường độ năng lượng tại nhiều tỉnh thành khác nhau.

Kể từ khi thực hiện chính sách cải cách và mở cửa, hàng loạt chính sách khuyến khích phát triển ngành công nghiệp công nghệ cao đã thúc đẩy các doanh nghiệp công nghệ cao phát triển. Định hướng Quốc gia về Chương trình phát triển Khoa học và Công nghệ (2006-2020) được Hội đồng Nhà nước Trung Quốc ban hành ngày 9/2/2006 xác định rõ (STECHEMESSER, K. & GUENTHER, E. 2012. Carbon accounting: a systematic literature review): Tạo môi trường thuận lợi cho các công ty công nghệ cao; Tăng cường đáng kể đầu tư vào khoa học và công nghệ; Hỗ trợ nhiều hơn cho đổi mới doanh nghiệp. Phát triển các công nghệ mũi nhọn (công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới và công nghệ năng lượng mới); Tăng cường nghiên cứu các công nghệ then chốt (công nghệ thông tin, công nghệ sinh học; y dược…). Đây là Kế hoạch phát triển Khoa học và Công nghệ dài hạn nhất từ trước đến nay. Trung Quốc xác định đến năm 2020 sẽ đạt được những đột phá về khoa học và công nghệ có tầm ảnh hướng lớn trên thế giới và đưa đất nước đứng vào hàng ngũ các quốc gia đổi mới nhất trên thế giới.

Thông qua việc cho phép thành lập các khu phát triển công nghệ cao, Trung Quốc đã ban hành hàng loạt các quy định và luật lệ liên quan như quy định về phạm vi các lĩnh vực khoa học và công nghệ cao được phát triển, bao gồm: vi điện tử, thông tin điện tử, không gian và vũ trụ, năng lượng mới và năng lượng hiệu quả cao, sinh thái và bảo vệ môi trường…và các ngành công nghệ thay thế khác cho các ngành công nghiệp truyền thống đang được sử dụng hiện nay.

Trong nhiều thập niên vừa qua, Trung Quốc đã xây dựng nhiều đặc khu kinh tế theo định hướng thị trường.Tuy nhiên, hầu hết các đặc khu kinh tế này đều gây ô nhiễm môi trường, nên hiện nay các nhà lãnh đạo đang nỗ lực hướng đất nước vào quỹ đạo phát triển bền vững, thông qua các đặc khu kinh tế “xanh”. Trung Quốc đã chọn ra 2 nhóm thành phố ở miền Trung làm “đầu tàu” áp dụng các chính sách phát triển bền vững và thân thiện môi trường là nhóm Vũ Hán thuộc tỉnh Hồ Bắc và nhóm Chu Châu thuộc tỉnh Hồ Nam. Theo đó, các thành phố liên quan sẽ phải đi tiên phong trong việc áp dụng chính sách mới, khác hẳn các phương thức truyền thống về công nghiệp hóa và đô thị hóa. Những thành phố  được chọn phần lớn đều có nền công nghiệp lạc hậu,đã khai thác đến kiệt quệ các tài nguyên thiên nhiên và gây ô nhiễm môi trường. Các thành phố này bị tụt hậu cũng vì kiểu phát triển bất chấp hậu quả .

Từ năm 2009 đến nay, ứng phó với BĐKH đã được lồng ghép vào các chiến lược phát triển kinh tế và xã hội, khoảng 2,1 nghìn tỷ Nhân dân tệ được chính phủ Trung Quốc cam kết đầu tư cho hoạt động bảo tồn năng lượng, giảm phát thải và bảo vệ môi trường.

Tháng 9/2009, tại Hội nghị thượng đỉnh LHQ về biến đổi khí hậu, Trung Quốc đã đưa ra một số biện pháp để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu (Bản tin môi trường số 1-2010 - Bộ Công Thương):

- (i) Tiết kiệm năng lượng và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng nhằm mục tiêu cắt giảm 40-45% lượng phát thải CO2 trên một đơn vị GDP vào năm 2020 so với năm 2005.

- (ii) Phát triển năng lượng tái tạo, năng lượng hạt nhân và tăng tỷ lệ sử dụng nhiên liệu phi hóa thạch trong tổng tiêu thụ năng lượng sơ cấp đến khoảng 15% vào năm 2020;

- (iii)Tăng khả năng hấp thụ carbon của hệ sinh thái: tăng độ che phủ rừng đến năm 2020 đạt khoảng 40 triệu ha rừng từ đó gia tăng khả năng hấp thụ carbon của hệ sinh thái.

- (iv) Đẩy mạnh nỗ lực phát triển nền kinh tế xanh, nền kinh tế carbon thấp, nền kinh tế khép kín và tăng cường nghiên cứu, phát triển, phổ biến các công nghệ thân thiện khí hậu.

Khung phối hợp chính sách tăng trưởng xanh của Trung Quốc

Nguồn: (Jänicke 2012)

Theo ước tính đến năm 2030, lượng khí thải CO2 bình quân đầu người sẽ đạt 8 tấn. Nhưng bằng cách theo đuổi con đường phát triển carbon thấp, Trung Quốc có thể giảm 20% lượng tiêu thụ năng lượng vào năm 2030, tương đương 4,47 tỉ tấn than và bình quân lượng CO2 đầu người sẽ giảm ở mức 5,9 tấn (Bản tin môi trường số 3-2017 - Bộ Công Thương).

Nghiên cứu của Richarch Baron, Andre Asrud (2012) về “Các lựa chọn cho một nền kinh tế các con thấp của Trung Quốc”cho thấy Trung Quốc đã xây dựng các chương trình mang đầy tham vọng với cam kết giảm cường độ sử dụng năng lượng tiêu thụ trên một đơn vị GDP xuống 16%. Trung Quốc đang thực hiện những bước tiến đáng kể trong việc chuyển đổi từ mô hình chi phí sản xuất cao, gây ô nhiễm, không bền vững sang mô hình sản xuất năng lượng có năng suất, hàm lượng khoa học và kỹ thuật cao, chi phí sản xuất thấp, thân thiện với môi trường, có trình độ tiên tiến và tính bền vững cao. (Còn tiếp)

Vũ Huy Hùng

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC