NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Phát triển xanh: Thực tiễn, vấn đề và giải pháp

Một số nét tổng quan

Thế giới đang trong giai đoạn nóng nhất kể từ Kỷ Băng hà cuối cùng và nhiệt độ vẫn tiếp tục gia tăng. Theo báo cáo trên chuyên san Science, các chuyên gia Mỹ đã tập hợp các giám định về nhiệt độ trong vòng 15.000 năm qua, từ lúc chấm dứt Kỷ Băng hà cuối cùng và kéo dài đến ngày nay. Những cuộc nghiên cứu về khí hậu trước đó thường chỉ tập trung vào những thay đổi trong 2.000 năm gần đây, dựa vào các cuộc phân tích vòng cây, lõi trầm tích hồ và tỷ lệ đồng vị trong hang động. Tuy nhiên, trong nghiên cứu mới, các chuyên gia của Đại học bang Oregon và Harvard (Mỹ) đã sử dụng mẫu lõi của 73 thềm băng và trầm tích tại khắp nơi trên thế giới để tái tạo lại sự thay đổi nhiệt độ toàn cầu nhờ vào quá trình nghiên cứu hóa thạch các vi sinh vật biển. Cuộc nghiên cứu kết luận rằng nhiệt độ toàn cầu đã dần tăng sau khi Kỷ Băng hà cuối cùng chấm dứt vào khoảng 6.000 năm trước, do những sự thay đổi về trục của Trái đất, khiến bức xạ từ mặt trời dội xuống bắc bán cầu với cường độ mạnh hơn vào mùa hè. Quá trình ấm lên này đạt đến cực điểm cách đây 5.000 năm, sau đó Trái đất bắt đầu nguội dần khiến nhiệt độ trung bình toàn cầu hạ xuống khoảng 0,8oC. Tuy nhiên, đến đầu thế kỷ 20, khuynh hướng này đảo nghịch, với nhiệt độ tăng lên lại 0,8oC, nhưng trong vòng một thế kỷ chứ không phải một thiên niên kỷ như trước đó. Theo đó, các chuyên gia kết luận đến năm 2100, địa cầu sẽ chứng kiến mốc nhiệt độ chưa từng có kể từ giai đoạn bình minh của nền văn minh nhân loại.

Kết quả của sự của sự trao đổi không cân bằng về năng lượng giữa trái đất với không gian xung quanh, dẫn đến sự gia tăng nhiệt độ của khí quyển trái đất. Hiện tượng này diễn ra theo cơ chế tương tự như nhà kính trồng cây và được gọi là "Hiệu ứng nhà kính". Nhờ hiệu ứng nhà kính mà nhiệt độ trung bình của bề mặt trái đất theo quan trắc là 15oC. Nếu không có hiệu ứng này xảy ra thì theo tính toán, nhiệt độ trung bình bề mặt trái đất sẽ là -18oC. Như vậy có thể nói rằng hiệu ứng nhà kính không hoàn toàn bất lợi. Vì hoạt động của con người làm phát thải khí nhà kính tăng, dẫn đến xuất hiện hiệu ứng nhà kính tăng cường. Điều này sẽ làm nhiệt độ bề mặt trái đất tăng, gây nên biến đổi khí hậu - BĐKH (Climate Change).

Biến đổi khí hậu xác định sự khác biệt giữa các giá trị trung bình dài hạn của một tham số hay thống kê khí hậu. Trong đó, trung bình được thực hiện trong một khoảng thời gian xác định, thường là vài thập kỷ. Sự thay đổi của khí hậu được quy trực tiếp hay gián tiếp là do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển toàn cầu và đóng góp thêm vào sự biến động khí hậu tự nhiên trong các thời gian có thể so sánh được.

Biến đổi khí hậu có thể do các quá trình tự nhiên, như các thay đổi trong quá trình phát năng lượng của mặt trời, hoặc các thay đổi chậm chạp của trục quay trái đất, hoặc do các quá trình tự nhiên nội tại của hệ thống khí hậu; hoặc do các tác động từ các hoạt động của con người. Các hoạt động sống của con người, đặc biệt là hoạt động đốt nhiên liệu hoá thạch (than, dầu mỏ và khí thiên nhiên), hoạt động nông nghiệp (đốt phụ phẩm sau thu hoạch…), thay đổi sử dụng đất (phá rừng…) làm sinh ra nhiều khí nhà kính hơn. Khi nồng độ khí nhà kính gia tăng sẽ làm cho quá trình giữ  nhiệt tăng lên. Hậu quả là nhiệt độ bề mặt trái đất tăng lên nhanh chóng.

Trong những năm gần đây, BĐKH thường đề cập tới sự thay đổi khí hậu hiện nay, được gọi chung bằng hiện tượng nóng lên toàn cầu. Nguyên nhân chính làm BĐKH trái đất là do sự gia tăng các hoạt động tạo ra các chất thải khí nhà kính, các hoạt động khai thác quá mức các bể hấp thụ và bể chứa khí nhà kính như sinh khối, rừng, các hệ sinh thái biển, ven bờ và đất liền khác.

Hầu hết giới khoa học đều công nhận BĐKH là do nồng độ của khí hiệu ứng nhà kính tăng lên trong khí quyển ở mức độ cao. Bản thân nó đã làm cho Trái đất ấm lên, nhiệt độ bề mặt Trái đất nóng lên, nhiệt độ nóng lên này đã tạo ra các biến đổi trong các vấn đề thời tiết hiện nay. Theo báo cáo mới nhất của Liên Hợp Quốc, nguyên nhân của hiện tượng BĐKH 90% do con người gây ra và 10% là do tự nhiên. Hiện nay, nhiệt độ trung bình đã tăng lên tới 0,3 - 0,4oC trong mấy chục năm vừa qua và hiện đang có xu hướng tăng tiếp.

Theo các mô hình nghiên cứu, trong thế kỷ 21 nhiệt độ trung bình của Trái đất có thể tăng từ 1,1 - 6 oC, khả năng xảy ra từ 1,8 - 4 oC tùy theo sự phát thải hiệu ứng nhà kính cắt giảm đến mức độ nào để làm giảm bớt các khí CO2 và các khí khác gây hiệu ứng nhà kính. Nếu như ngay từ lúc này, nhân loại  dừng phát thải khí  nhà kính thì nhiệt độ bề mặt Trái đất vẫn tiếp tục nóng lên, nước biển vẫn tiếp tục dâng lên trong vòng 50 năm nữa. Mực nước biển dâng lên từ 28 - 43 cm. Nhưng có thể mực nước biển này còn cao hơn nữa tùy theo sự phát thải của hiệu ứng nhà kính và tác động của con người gây ra.

Vùng chịu ảnh hưởng của BĐKH lớn nhất của Trái đất là Bắc cực và Nam cực, hai nơi này nhiệt độ tăng lên nhanh nhất, sau đó đến các vùng núi cao như Himalaya, Tây Tạng... Theo nghiên cứu những vùng lạnh nhất có nhiệt độ tăng lên nhanh nhất. Trái đất có 7 tỷ người và hiện giờ có đến hơn một nửa số người này sống ở vùng duyên hải của Trái đất trong phạm vi 100 km trở lại vùng bờ biển. Khi nước biển dâng lên làm ảnh hưởng đến cuộc sống của hàng tỷ người.

Biến đổi khí hậu là nguy cơ chung cho đời sống nhân loại. Hiện tượng BĐKH đang diễn  ra, còn mức độ nghiêm trọng đến đâu là  hoàn toàn do con người quyết định. Báo cáo của Ủy ban liên chính phủ IPCC về BĐKH (IPCC, thuộc Liên Hợp Quốc) dựa trên 29.000 dẫn chứng và các mô hình nghiên cứu bằng máy tính cảnh báo tình trạng Trái đất nóng lên là “rõ ràng” và “các nước nghèo sẽ chịu ảnh hưởng trước tiên”. Đây là báo cáo thứ tư trong lịch sử 20 năm của IPCC, tổ chức vừa nhận giải Nobel hòa bình 2007 cùng với cựu phó tổng thống Mỹ Al Gore.  Bản báo cáo nói trên được coi là ảm đạm nhất từ trước tới nay với lời cảnh báo rằng, tác động của tình trạng ấm lên trên toàn cầu là "bất ngờ và không thể đảo ngược", đồng thời không loại trừ bất cứ quốc gia nào. Ông Ban Ki Mun - Nguyên Tổng thư ký LHQ nhận xét: bản báo cáo lịch sử này sẽ giúp tạo ra bước đột phá trong nỗ lực đối phó với tình trạng BĐKH.

Báo cáo Phát triển con người cũng đã dành nội dung chủ yếu cho BĐKH, vấn đề được ghi nhận là "tình huống khẩn cấp" của một cuộc khủng hoảng gắn liền với hôm nay và mai sau. Đứng thứ hạng cao về khả năng dễ bị tổn thương do tác động của BĐKH, Việt Nam đã được Liên hợp quốc chọn là quốc gia để tiến hành nghiên cứu điển hình về BĐKH và phát triển con người.

Các nhà khoa học cho rằng để chăn chặn thảm họa BĐKH, nhiệt độ không được phép tăng hơn 2oC. Các nước giàu chỉ chiếm 20% dân số thế giới, nhưng thải tới 80% lượng khí thải toàn cầu.Theo Nghị định thư Kyoto, họ đã đồng ý cắt giảm lượng khí thải xuống ít nhất 5% dưới mức năm 1990 vào năm 2012. Cho đến nay, các nước giàu nói chung đã chấp nhận cam kết từ nay đến năm 2020 giảm từ 11% đến 15% lượng khí thải khí nhà kính của họ so với mức của năm 1990. Liên minh châu Âu hứa sẽ đơn phương giảm 20% lượng khí thải trong khu vực, thậm chí giảm 30% nếu những nước khác làm theo gương của họ… tuy nhiên, lời hứa vẫn chỉ là lời hứa.

Theo ước tính, chỉ trong vòng 10 năm - 15 năm nữa, lượng khí thải gây hiệu ứng nhà kính sẽ vượt ngưỡng cho phép để có thể duy trì tình trạng ấm lên ở mức "chấp nhận được" như hiện nay. Một số ý kiến cho rằng, ngay cả khi lượng khí CO2 trong khí quyển dừng lại ở mức như hiện nay thì mực nước biển vẫn sẽ tăng từ 0,4m - 1,4m. Theo Phờ-len-nơ-ry- tác giả cuốn sách"Những người dự báo thời tiết", thì dữ liệu khoa học mới cho thấy, lượng các-bon đi-ô-xít và các khí thải gây hiệu ứng nhà kính khác đã đạt khoảng 455 phần trên một triệu vào giữa năm 2005, vượt so với nhiều tính toán khoa học trước đó.

Năm 2015, COP21 tại Paris đã đạt được một bước tiến mới trong đàm phán về biến đổi khí hậu toàn cầu đó là tất cả các Bên đã thông qua Thỏa thuận Paris với mục tiêu và cam kết cụ thể giảm nhẹ phát thải khí nhà kính cho giai đoạn từ 2021 - 2030. Hiệp định Paris về biến đổi khí hậu đặt mục tiêu giảm mức tăng nhiệt độ của Trái đất ở mức 1,5-2 độ C so với thời kỳ tiền công nghiệp. Tuy nhiên, do đại dương có khả năng hấp thụ nhiệt cao hơn hẳn so với khí quyển, các nhà khoa học tin rằng nó sẽ tiếp tục ấm lên kể cả khi con người có thể giảm khí thải theo mục tiêu của Hiệp định Paris.

Tốc độ thay đổi khí hậu đang diễn ra nhanh hơn so với dự đoán của giới khoa học và tình trạng đó có thể gây nên những hậu quả đáng sợ sau nửa thập kỷ nữa - Quỹ Quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) dự báo. Theo WWF, những thảm họa thời tiết, chẳng hạn như mùa hè kinh khủng từng giết chết 35 nghìn người ở châu Âu trong năm 2003, sẽ xảy ra thường xuyên hơn.WWF nhận thấy Bắc Băng Dương có thể hết băng sớm hơn ít nhất 30 năm so với dự báo của IPCC. Nếu xu hướng này vẫn tiếp diễn, trong vòng 5 năm nữa chúng ta sẽ không nhìn thấy băng ở Bắc Cực vào mùa hè - điều chưa từng xảy ra trong hơn một triệu năm qua. Hiện tượng đó có thể mở màn cho một giai đoạn mà trong đó, các thay đổi khí hậu diễn ra nhanh chóng và bất ngờ, chứ không chậm và đều như hiện nay.Báo cáo của WWF mang tên "Thay đổi khí hậu: Nhanh hơn, mạnh hơn và sớm hơn" cũng cho rằng, tình trạng mùa màng thất bát, lũ lụt ở Bắc Âu và hạn hán kéo dài ở Địa Trung Hải sẽ xảy ra thường xuyên. Số lượng và cường độ những cơn lốc xoáy tại Anh và nhiều nơi khác sẽ tăng lên.

Năm 2019, Ủy ban Liên chính phủ về BĐKH của Liên Hợp Quốc đã cảnh báo rằng vào cuối thế kỷ này, hàng chục triệu người có thể phải di dời khỏi các vùng ven biển do tình trạng xâm thực. Biến đổi khí hậu có thể khiến nền kinh tế thế giới thiệt hại 7.900 tỷ USD vào năm 2050 do hạn hán, lũ lụt và các vụ mùa thất thu ngày càng gia tăng làm cản trở tốc độ tăng trưởng và đe dọa hạ tầng cơ sở. Dự báo được đưa ra trong một báo cáo phân tích công bố ngày 19/11/2019, dựa trên chỉ số ứng phó BĐKH của Cơ quan Tình báo kinh tế (EIU) tính tới hoạt động chuẩn bị ứng phó của 82 nền kinh tế lớn nhất thế giới. Theo báo cáo, căn cứ vào xu hướng nhiệt độ toàn cầu ấm lên như hiện nay, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) toàn cầu năm 2050 sẽ giảm 3%.

Thực tiễn Việt Nam

Tại Việt Nam, dưới tác động của BĐKH, tần suất và cường độ thiên tai ngày càng gia tăng, gây nhiều tổn thất lớn về người, tài sản, cơ sở hạ tầng, kinh tế, văn hóa, xã hội. Theo số liệu thống kê trong 5 năm gần đây, thiên tai đã làm 2.355 người chết, gây thiệt hại về tài sản ước khoảng 75 ngàn tỷ đồng và đã để lại hậu quả quá nặng nề.

Nghiên cứu của Bà Nguyễn Thị Hiền Thuận, Phó Phân Viện trưởng Phân viện Khoa học Khí tượng - Thủy văn và Môi trường tại TP. Hồ Chí Minh: "Khí hậu Việt Nam đã nóng lên 0,1- 0,20C trong hơn 10 năm qua. Mực nước biển cũng đã dâng cao hơn. Dù tổng lượng mưa ít thay đổi, nhưng thời điểm mưa đã thay đổi, mùa khô kéo dài hơn, mùa mưa nhiều mưa hơn, khiến cho hạn hán và lũ lụt đều có chiều hướng tăng lên". Nghiêm trọng hơn, tác động của BĐKH còn có thể gây tổn thương cho hệ sinh thái. GS-TSKH Lê Huy Bá (Viện KHCN và Quản lý môi trường - ĐH Công nghiệp TP.HCM) cho rằng: Sự tăng lên của nhiệt độ tác động đến các hệ sinh thái tự nhiên, làm dịch chuyển các ranh giới nhiệt của các hệ sinh thái lục địa và hệ sinh thái biển, làm thay đổi cơ cấu các loài thực vật và động vật ở một số vùng. Chế độ nhiệt xích đạo sẽ lan rộng lên đồng bằng sông Cửu Long. Nước mặn sẽ xâm nhập sâu vào nội địa, giết chết nhiều loài động, thực vật nước ngọt của hệ sinh thái thủy sinh và ảnh hưởng đến nguồn nước ngọt cho sinh hoạt cũng như hệ thống canh tác, cơ cấu cây trồng của nhiều vùng. Sự thích nghi không tốt với BĐKH đã khiến đa dạng sinh học suy giảm nghiêm trọng.

Theo kết quả khảo sát của Viện Nghiên cứu phát triển đồng bằng sông Cửu Long (ĐH Cần Thơ): Sự xuất hiện và tác động của thời tiết bất thường sẽ ảnh hưởng đến sản lượng và diện tích nuôi trồng. Người dân ở tỉnh Trà Vinh, Kiên Giang thì nghiệm ra chu kỳ khoảng 3 - 4 năm sẽ có một đợt tôm chết hàng loạt. Thiệt hại bình quân được ước tính khoảng 215 kg tôm/ha, bằng 76% sản lượng bình quân trong năm. Theo nghiên cứu của Viện thì ảnh hưởng tiêu cực nhất giữa nhiệt độ không khí trung bình và sản lượng tôm xảy ra vào khoảng tháng 3 hằng năm. Và nếu nhiệt độ tăng 10oC thì sản lượng tôm sẽ giảm 0,7 tấn/ha. Đánh giá của các doanh nghiệp và Hiệp hội thủy sản,kim ngạch xuất khẩu thủy sản bị tác động và ảnh hưởng không nhỏ của BĐKH do bị thu hẹp diện tích (12%), sản lượng (18%) và nhân tố giá cả (17 %)

Nền kinh tế xanh” được Chương trình Môi trường - Liên Hợp Quốc, Ủy ban Kinh tế và Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương- Liên Hợp Quốc, Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế... quan niệm là thuật ngữ với nội hàm bao gồm các yếu tố cơ bản sau: i) đầu tư vào vốn tài nguyên; ii) tạo việc làm và công bằng xã hội; iii) thay thế năng lượng hóa thạch bằng năng lượng tái tạo và công nghệ ít các-bon; iv) khuyến khích sử dụng nguồn lực và năng lượng hiệu quả hơn; v) đô thị bền vững và giao thông ít các-bon; vi) cơ chế tài chính, tài khóa; vii) hệ thống pháp luật, chính sách hỗ trợ. Mô hình kinh tế xanh sẽ làm chuyển đổi cơ bản cấu trúc kinh tế truyền thống, giải quyết hiệu quả các thách thức về kinh tế, môi trường và xã hội của khu vực, qua tiếp cận hiệu quả sinh thái.

Thuật ngữ “phát triển xanh” xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn Thế giới (công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn Thiên nhiên và Tài nguyên Thiên nhiên Quốc tế - IUCN) với nội dung rất đơn giản: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Khái niệm này được phổ biến rộng rãi vào năm 1987 trong Báo cáo Brundtland (còn gọi là Báo cáo Our Common Future) của Ủy ban Môi trường và Phát triển Thế giới - WCED (nay là Ủy ban Brundtland). Báo cáo này ghi rõ: Phát triển xanh là “sự phát triển có thể đáp ứng được những nhu cầu hiện tại mà không ảnh hưởng, tổn hại đến những khả năng đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai...”. Nói cách khác, phát triển xanh phải bảo đảm có sự phát triển kinh tế hiệu quả, xã hội công bằng và môi trường được bảo vệ, gìn giữ. Để đạt được điều này, tất cả các thành phần kinh tế - xã hội, nhà cầm quyền, các tổ chức xã hội... phải bắt tay nhau thực hiện nhằm mục đích dung hòa 3 lĩnh vực chính: kinh tế - xã hội - môi trường.

Cùng với nhiều nước trong khu vực và thế giới, phát triển xanh hiện  đang là một trọng tâm trong chính sách phát triển quốc gia ở Việt Nam, nhằm giảm phát thải các-bon, hướng đến nền kinh tế các-bon thấp trong tương lai. Hiện nay, mô hình phát triển xanh đã được nhiều quốc gia trên thế giới áp dụng để giải quyết một cách hiệu quả các thách thức về kinh tế, môi trường và xã hội qua hướng tiếp cận hiệu quả sinh thái, tập trung chủ yếu vào một số các công cụ như: công nghiệp xanh, việc làm xanh, thị trường xanh, thuế xanh, cùng các cơ chế tài chính các-bon… Học hỏi và tiếp thu những kinh nghiệm này, Việt Nam cũng đang áp dụng tăng trưởng xanh với 3 nội dung chính, bao gồm: tăng trưởng kinh tế tập trung vào các ngành sản xuất thân thiện môi trường; giảm suy thoái môi trường và chiến lược giảm thiểu, thích ứng kịp thời với các tác động của BĐKH. Tuy nhiên, việc áp dụng tăng trưởng xanh ở Việt Nam đang gặp phải một số rào cản do chính sách, năng lực đầu tư, công nghệ, hợp tác quốc tế, mạng lưới đối tác đều hạn chế. Việt Nam muốn hướng tới nền kinh tế các-bon thấp thì cần định hướng chính sách giảm thải khí nhà kính trong 3 lĩnh vực: năng lượng, lâm nghiệp và nông nghiệp; đồng thời cần gắn mục tiêu này với các nhiệm vụ trong Chương trình mục tiêu quốc gia ứng phó với biến đổi khí hậu.

Giải pháp cho thời gian tới

Có thể nói rằng hành trình của Việt Nam trên con đường tuân thủ Công ước của Liên Hợp Quốc về thay đổi khí hậu, nghị định thư Kyoto nói chung và Cơ chế phát triển sạch (CDM) nói riêng mới chỉ bắt đầu. Nhưng với những thành công bước đầu, với những cơ chế, chính sách đã và đang xây dựng và những nguồn lực sẵn có sẽ giúp Việt Nam thành công hơn nữa trong các dự án CDM, vững bước hơn trên con đường hướng tới một quốc gia tăng trưởng về kinh tế, phát triển về xã hội và bền vững về môi trường. 

Trong bối cảnh thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu, Việt Nam đã cam kết tự thực hiện giảm 8% mức phát thải khí vào năm 2030 so với kịch bản phát thải thông thường và nếu có thêm nguồn lực quốc tế thì có thể đạt 25%, như vậy có thể thấy việc thực hiện tăng trưởng xanh (ở mức giảm phát thải 25%) vẫn còn là một thách thức và phụ thuộc. Các thiết bị, sản phẩm, dịch vụ, hàng hóa tham gia thị trường sẽ phải dãn nhãn tiết kiệm năng lượng hoặc nhãn các-bon (carbon footprint - là loại nhãn được tính toán về mức phát thải CO2 trong quá toàn bộ vòng đời sản phẩm gồm khai thác, chế biến nguyên liệu, sản xuất hàng hóa, vận chuyển và phân phối, tiêu dùng và thải bỏ). Đây thực sự là thách thức đối với nền sản xuất trong nước khi mà trình độ công nghệ còn lạc hậu, tiêu tốn nhiều năng lượng và phát thải lớn thì các sản phẩm hàng hóa của Việt Nam sẽ không có cơ hội tiếp cận các thị trường khắt khe bởi các rào cản kỹ thuật về biến đổi khí hậu trong tương lai.

Từ kinh nghiệm của các nước, để giảm thiểu tác động, ảnh hưởng của BĐKH, có thể rút ra một số bài học cho Việt Nam như sau:

1. Phải có nhận thức đúng đắn về vấn đề bảo vệ môi trường, coi vấn đề biến đổi khí hậu là chủ đề quan trọng toàn cầu ngày nay. Nhận thức về vấn đề này, trước hết phải từ người lãnh đạo trở xuống, luôn sử dụng các biện pháp tổng hợp (hành chính, kinh tế, chính trị) để phòng chống việc phát thải khí nhà kính, đi đôi với việc "xanh hóa" các hoạt động có thể được ở các doanh nghiệp, công sở.

2. Trong giai đoạn hiện nay, xuất phát từ những cam kết quốc tế, pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta cần được nghiên cứu, hoàn thiện ở một số phương diện sau đây:

 a) Xây dựng cơ chế mang tính nguyên tắc là: Buộc đánh giá tác động môi trường đối với mọi đề xuất cho bất kỳ một hoạt động nào có khả năng ảnh hưởng lớn tới môi trường thiên nhiên, trước khi chúng được thông qua. Quản lý chặt chẽ công nghệ, hàng hóa xuất, nhập khẩu có liên quan đến phát thải khí nhà kính.

b) Nghiên cứu, ban hành và thực thi từng bước pháp luật bảo vệ tầng ôzôn phù hợp với các qui định trong Công ước khung của Liên Hợp Quốc và Công ước Viên về bảo vệ tầng ôzôn, ngày 22 tháng 3 năm 1985; Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ôzôn, được điều chỉnh và sửa đổi tại cuộc họp lần thứ hai của các bên, tại London, ngày 27-29 tháng 6 năm 1990 và được bổ sung tại cuộc họp lần thứ ba của các bên  tại Nairobi, ngày 19-21 tháng 6 năm 1991; Cuộc họp lần thứ tư của các bên tại Copenhagen, ngày 23-25 tháng 11 năm 1992 . Theo đó mỗi quốc gia đều có trách nhiệm ban hành các chính sách, các qui định pháp luật tương ứng và thực hiện các biện pháp thích ứng về giảm nhẹ sự thay đổi khí hậu.

c) Khi điều kiện chưa bảo đảm, Việt Nam không nên vội vàng trong việc áp dụng ồ ạt các cơ chế chính sách ở phạm vi rộng mà cần tập trung nguồn lực để thực hiện tốt một số cơ chế chính sách cơ bản, sau đó mở rộng dần phạm vi áp dụng ra chúng.

Việc áp dụng kết hợp nhiều nhóm chính sách là cần thiết để đem lại hiệu quả thực thi. Vì vậy, bên cạnh sức ép bên ngoài, cần phải tạo những sức ép bên trong mạnh mẽ từ cộng đồng xã hội, hiệp hội ngành nghề, tổ chức, đồng thời ban hành các chính sách hỗ trợ nhất định để tạo điều kiện cho doanh nghiệp cũng thu được lợi ích kinh tế từ việc đầu tư cho các dự án bảo vệ môi trường. Tạo ra áp lực cần thiết buộc các nhà kinh doanh chỉ cung ứng các sản phẩm thân thiện với môi trường cho người tiêu dùng. Điều này sẽ có tác động lan tỏa tới các nhà sản xuất.

3. Phối hợp giữa các cơ quan trong việc ban hành, thực thi, giám sát, kiểm tra và giải quyết các vấn đề thương mại và môi trường là một trong những biện pháp quan trọng để thúc đẩy tăng trưởng thương mại và bảo vệ môi trường. Việc thành lập Uỷ ban môi trường quốc gia nhằm điều phối các hoạt động liên ngành, các hoạt động có liên quan đến môi trường của Thái Lan cũng là một kinh nghiệm hay mà chúng ta cần quan tâm xem xét.

4. Cần có cơ chế, chính sách khuyến khích tài chính đủ mạnh. Theo đó:

- Thực thi Nghị định 130-NĐ/CP của Chính phủ về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư cho các dự án sản xuất sạch.

- Tiếp tục hoàn thiện cơ chế hoạt động của Quỹ bảo vệ môi trường. Tăng nguồn thu cho Quỹ bảo vệ môi trường Việt Nam từ phí bảo vệ môi trường đã và sẽ áp dụng tại Việt Nam; mở rộng hợp tác quốc tế để huy động nguồn vốn bên ngoài, đặc biệt là nguồn vốn từ các chế định tài chính quốc tế như Quỹ môi trường toàn cầu, quỹ môi trường của một số nước đối tác...

5. Xây dựng và thực hiện chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường như: cho doanh nghiệp vay vốn ưu đãi để thực hiện các dự án sản xuất sạch hơn; khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng góp vốn đầu tư hệ thống xử lý ô nhiễm trong làng nghề, cụm công nghiệp theo phương thức Nhà nước và doanh nghiệp cùng làm. Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ về thông tin, khả năng tiếp cận dịch vụ môi trường và nguồn nguyên liệu sạch. Trợ giúp các doanh nghiệp trong việc áp dụng chứng chỉ phù hợp. Nhanh chóng hình thành nguồn vốn hoặc quỹ môi trường của ngành để trợ giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực thực thi quy định và pháp luật bảo vệ môi trường. 

6. Về phía các doanh nghiệp

- Xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn có tính đến các tác động của các quy định tiêu chuẩn và quy định môi trường của sản phẩm.

- Đầu tư đổi mới công nghệ đồng bộ và hiện đại để sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, giảm thiểu ô nhiễm, nâng cao chất lượng sản phẩm.

- Nâng cao năng lực quản lý cho đội ngũ cán bộ chủ chốt trong doanh nghiệp, đặc biệt là năng lực phân tích kinh tế và môi trường, biết gắn kết lợi ích kinh tế và lợi ích môi trường, khả năng phân tích chi phí – lợi ích khi phải tiến hành đồng thời cả nhiệm vụ kinh doanh và thực thi quy định môi trường, để từ đó họ có những cân nhắc hợp lý theo nguyên tắc “WIN - WIN”, đôi bên đều có lợi.

- Trong doanh nghiệp nên hình thành bộ phận nghiên cứu và thực thi các quy định môi trường. Hàng tháng, hàng quý và kết thúc năm phải có báo cáo của doanh nghiệp về thực thi quy định và luật pháp môi trường, các báo cáo này cần phải được lưu giữ để theo dõi.

7. Việc đưa ra các chương trình “Kích cầu Xanh” là một phần của gói kích thích mở rộng để đồng thời đẩy mạnh kinh tế, tạo việc làm, giảm đói nghèo, bảo vệ các cộng đồng có nguy cơ bị tác động bởi khí hậu.

8. Hoàn thiện chính sách xuất nhập khẩu

- Có chính sách nhằm đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu, để vừa khai thác các tiềm năng vừa tránh được tình trạng khai thác quá mức một số loại tài nguyên, gây cạn kiệt.

- Kết hợp thuế bảo vệ môi trường vào hệ thống thuế nhập khẩu. Việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường đối với hàng nhập khẩu sẽ đạt được nhiều mục tiêu: bảo vệ môi trường, bảo hộ sản xuất, tăng thu ngân sách nhà nước… điều này không trái với nguyên tắc của WTO, mà về một ý nghĩa nào đó còn được dư luận xã hội ủng hộ.

- Khuyến khích nhập khẩu máy móc, thiết bị có công nghệ tiên tiến (kết hợp xem xét với yêu cầu của công nghệ xanh). Hạn chế nhập khẩu thiết bị, công nghệ trung gian. Đây là một chính sách quan trọng, nhằm ngăn chặn dòng thương mại và thiết bị – công nghệ cũ và lạc hậu đổ vào nước ta và theo đó là sự tiêu tốn tài nguyên, phát  thải các chất độc làm tổn hại đến môi trường sinh thái.

- Thử nghiệm đấu giá các giấy phép nhậu khẩu đối với những hàng hoá gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái. Đây là chính sách cần thiết có tác động điều chỉnh trực tiếp đối với các sản phẩm gây hại đến môi trường, phát thải các chất gây hiệu ứng nhà kính, làm thủng tầng ô - zôn (như ô tô bốn chỗ ngồi, các hoá chất có gốc CFC,...), thông qua đó số tiền mà Nhà nước thu được để lập quỹ bảo vệ môi trường.

9. Xây dựng  một chính sách tiêu dùng hợp lý, khoa học. Cần phải xem hướng dẫn tiêu dùng như là một bộ phận trong giáo dục lối sống của cộng đồng để đạt đến sự phát triển bền vững. Một chính sách tiêu dùng hợp lý, được chấp nhận sẽ góp phần sử dụng có khoa học các tài nguyên thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm của người tiêu dùng đối với mọi hàng hoá lưu thông trên thị trường  tạo ra sức ép buộc các nhà sản xuất phải tuân thủ đúng tiêu chuẩn về chất lượng đối với sản phẩm của mình. Tiêu dùng có văn hoá và mang tính nhân bản là tiêu dùng không chỉ cho hôm nay còn nghĩ đến tương lai của thế hệ mai sau.

10. Hình thành và phát triển hệ thống quản lý môi trường ở địa phương theo hướng kết hợp quản lý tài nguyên với quản lý môi trường. Trước mắt kiện toàn các Sở Tài nguyên và Môi trường, trong đó có đơn vị quản lý môi trường đủ mạnh ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, hình thành bộ phận quản lý môi trường kết hợp với quản lý tài nguyên ở cấp huyện, có cán bộ chuyên trách về môi trường và tài nguyên ở cấp xã.

Không thể có kinh tế thị trường nếu không tiến hành tự do hoá thương mại. Trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không chịu sự tác động của những quan hệ mang tính tổng hợp, khu vực và toàn cầu. Trong bối cảnh ấy hoà hợp các chính sách, cơ chế nhằm thúc đẩy tự do hoá thương mại với các chính sách môi trường, ứng phó với BĐKH sẽ là một giải pháp hữu hiệu để đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển một cách bền vững.

 

Vũ Huy Hùng

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC