NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Phát triển ngành nhựa và giải pháp cho Việt Nam (Phần 2)

02/08/2023

Mặc dù năm 2014, cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm của Hoa Kỳ (FDA - Food and Drug Administration) đã công bố bản báo cáo mới nhất xác nhận “Giới hạn tiếp xúc ban đầu vào năm 1980 là 50 µg/kg (khoảng 23 µg/lb) hàng ngày và kết luận rằng BPA trong nhựa PC vẫn có thể an toàn ở mức hiện tại được cho phép" song người tiêu dùng vẫn còn nhiều nghi vấn. Vì vậy, có thể thấy, loại nhựa an toàn và tốt nhất được ưa chuộng vẫn là chất liệu Tritan.

Nhiều người thường nhẫm lẫn nhựa Tritan và nhựa PC nhưng 2 loại này hoàn toàn khác nhau và cần được phân biệt như sau:

- Nhựa PC: là loại nhựa tốt nhưng vẫn chứa chất BPA, không được tái chế. Nhựa trong suốt và cứng, khi rơi dễ vỡ. Dưới đấy bình được đánh số 7 (mã nhận diện số 7) nhưng trên thân bình không có chữ BPA Free (hoặc không chứa BPA).

- Nhựa Tritan: là loại nhựa tự nhiên, dưới đáy bình có đánh số 7, trên thân bình có ghi chú chữ BPA Free Tritan (hoặc không chứa BPA). Nhựa có độ trong suốt như thủy tinh, khi rơi khó vỡ, nhựa đặc biệt an toàn cho người sử dụng, nhất là thường dùng làm bình đựng nước thể thao.

Dưới đây là bảng tổng hợp dùng để phân biệt ký hiệu các loại nhựa (thường tìm thấy ở mặt dưới của các vật dụng bằng nhựa hoặc dưới đáy các hộp nhựa, chai nhựa).

Các ký hiệu thường được tìm thấy dưới đáy các hộp, chai, nắp nhựa…

Các kí hiệu này ẩn chứa thông tin quan trọng vì mỗi loại nhựa lại chứa những chất hóa học có thể gây ra nhiều tác hại cho sức khỏe của chúng ta theo các cấp độ khác nhau.

Tổng hợp các loại nhựa an toàn nên dùng và nên tránh

Lưu ý: nếu tìm dưới đáy hộp mà không thấy ký hiệu , điều này nhiều khả năng đây là loại nhựa số 7 (nhựa PC) rất độc hại. Đây là loại nhựa độc nhất trong các loại nhựa độc hại , tuyệt đối tránh.

Bảng 01: phân biệt các loại nhựa qua ký hiệu dưới đáy hộp

(của Hội đồng hóa học Hoa Kỳ)

Mã số các loại nhựa - Nguồn: American Chemistry Cousil

3. Loại hình doanh nghiệp và công nghệ

Doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa được chia 4 nhóm chính: màng mỏng, màng phức, chai PET và chai non - PET. Khách hàng chủ yếu là các doanh nghiệp sản xuất, chế biến thực phẩm, đồ uống, hàng ăn nhanh.

Doanh nghiệp nhựa xây dựng: Sản phẩm là ống nước, cửa nhựa, tấm trần, sàn nhựa. Giá trị gia tăng cao hơn, sự khác biệt sản phẩm rõ ràng.

Công nghệ sản xuất: ngành nhựa Việt Nam sử dụng ba công nghệ sản xuất chính để sản xuất các sản phẩm nhựa là công nghệ ép thổi (Extrusion Blown Molding): sản phẩm bao bì, túi ni lông, chai nhựa PET; ép đúc (Injection Molding): sản phẩm nhựa gia dụng, nhựa kỹ thuật; và ép đùn (Extrusion Molding): sản phẩm ống nhựa, trần, tường nhựa. Công nghệ ép phun có sản phẩm chủ yếu là ống PVC, HDPE, phụ kiện. Hiện tại các dây chuyền sản xuất và máy móc của ngành nhựa đều  phụ thuộc hoàn toàn vào việc nhập khẩu.

Xuất xứ công nghệ: Sản phẩm nhựa kỹ thuật - dây chuyền công nghệ của Hàn Quốc, Nhật (doanh nghiệp chủ yếu là FDI); Sản phẩm nhựa xây dựng- dây chuyền công nghệ của Đức,Ý; Sản phẩm nhựa bao bì - chủ yếu Trung Quốc, Đài Loan.

Nhìn chung trang thiết bị, công nghệ sản xuất các sản phẩm nhựa của Việt Nam chủ yếu là công nghệ Trung Quốc.Dây chuyền, máy móc theo công nghệ của Hàn Quốc, Nhật Bản và Đức chiếm lần lượt 15%, 13% và 5% trong cơ cấu máy móc nhập khẩu của ngành nhựa. Công nghệ Hàn Quốc, Nhật Bản thường được sử dụng trong mảng nhựa kỹ thuật, còn đối với mảng nhựa vật liệu xây dựng, công nghệ Đức thường được ưu tiên lựa chọn.

Thượng nguồn của ngành nhựa bao gồm các doanh nghiệp lọc hóa dầu, các doanh nghiệp hóa chất với hoạt động chính là biến đổi các loại nguyên liệu hóa thạch thành các loại hạt nhựa nguyên liệu.

Các nhà máy hóa dầu đang hoạt động hiện tại chủ yếu tập trung ở phía Nam (Bà Rịa Vũng Tàu và Đồng Nai), chỉ có một nhà máy hóa dầu là BSR ở khu vực miền Trung và một nhà máy là nhà máy Nghi Sơn tại miền Bắc. Các doanh nghiệp nhựa khu vực phía Bắc khá khó tiếp cận với nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước mà đặc biệt là PVC, và phải phụ thuộc gần như hoàn toàn vào nhập khẩu.Thượng nguồn ngành nhựa Việt Nam không chỉ không sản xuất đủ số lượng mà cơ cấu sản phẩm cũng không đủ đa dạng để đáp ứng được nhu cầu của hạ nguồn.Hiện tại thượng nguồn ngành nhựa Việt Nam chỉ có khả năng sản xuất 4 loại nguyên liệu là PVC, PP, PET và PS trong đó nguyên liệu nhựa PVC chiếm đến 51% năng lực sản xuất của toàn ngành.Trong khi đó, hàng năm hạ nguồn ngành nhựa Việt Nam sử dụng đến 30 loại nguyên liệu nhựa nguyên sinh khác nhau và chủ yếu phụ thuộc vào nhập khẩu.Trong số hơn 30 loại nguyên liệu nhựa nhập khẩu hàng năm,PE là loại nguyên liệu quan trọng nhất. Đây là loại nguyên liệu nhựa phổ biến nhất thế giới và hiện tại thượng nguồn ngành nhựa Việt Nam chưa có khả năng sản xuất loại nguyên liệu này”. Điều này gây ảnh hưởng tiêu cực nhất đến sản xuất mảng nhựa bao bì do PE là nguyên liệu quan trọng, được sử dụng nhiều nhất trong các sản phẩm bao bì nhựa.

Hạ nguồn của ngành nhựa là giai đoạn các nhà sản xuất biến đổi các loại hạt nhựa nguyên liệu thành các sản phẩm nhựa. Hạ nguồn của ngành nhựa, dựa vào sản phẩm có thể chia ra làm 4 mảng chính là nhựa bao bì, nhựa xây dựng, nhựa dân dụng và nhựa kỹ thuật.

Đầu vào chủ yếu của các công ty sản xuất nhựa Việt Nam là nguyên liệu nhựa (dưới dạng hạt nhựa hoặc bột nhựa) và một số hóa chất phụ gia phục vụ quá trình sản xuất sản phẩm nhựa.

Ngành công nghiệp nhựa dựa chủ yếu vào các sản phẩm hóa dầu. Hiện nay, ngành công nghiệp hóa dầu Việt Nam vẫn còn tương đối non trẻ, do đó gần như tất cả các nguyên liệu cho sản xuất nhựa phải nhập khẩu. Điều này dẫn đến việc ngành nhựa Việt Nam chịu tác động lớn từ những thay đổi trong thị trường nguyên liệu nhựa cũng như nền công nghiệp hóa dầu quốc tế.

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành Nhựa Việt Nam vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế - kỹ thuật về gia công chất dẻo,trong khi đó lại không chủ động được hoàn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.Hiện nay mỗi năm ngành Nhựa cần khoảng 4.5 -5,5 triệu tấn các loại nguyên liệu đầu vào như PE, PP, PS, PVC… phục vụ cho các công ty sản xuất Nhựa VLXD (ống nhựa PVC, ống nhựa HDPE, cửa nhựa PVC…), sản xuất bao bì nhựa (bao bì PE, PP, chai lọ PET), nhựa gia dụng và linh kiện các sản phẩm điện tử…

Cùng với nguyên liệu cho sản xuất nhựa, hàng năm Việt Nam phải nhập khẩu hàng trăm loại phụ gia,khối lượng nhập khẩu ước tính có thể lên tới một triệu tấn mỗi năm. Hiện tại trong nước chỉ có một vài công ty sản xuất phụ gia nhựa để phục vụ trong các ngành công nghiệp nhựa, tập trung chủ yếu ở phía Nam .Trong đó công ty sản xuất phụ gia nhựa lớn nhất là LG Vina Chemicals JVCo với công suất 40.000 tấn chất dẻo DOP mỗi năm. Ngoài ra, một số sản xuất chất phụ gia cho ngành nhựa khác có thể kể tên : Công ty TNHH Đông Á, Công ty cổ phần Đại Á, Công ty cổ phần Latca, Công ty TNHH Nhựa Màu Sài Gòn...Các chất phụ gia nói chung sản xuất trong nước bao gồm các sợi cốt thủy tinh, sắc tố màu sắc, chất hoá dẻo và chất độn.Hầu hết các công ty này là các công ty vừa và nhỏ với công suất thấp, chỉ có thể đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu trong nước đối với phụ gia nhựa, vì vậy hầu hết các chất phụ gia được do đó nhập khẩu.

Nhìn chung ngành Nhựa hiện nay mới chỉ chủ động được khoảng 15-20% nguyên liệu cũng như hóa chất phụ gia đầu vào.Nếu không sớm chủ động được nguồn nguyên liệu thì đây sẽ là một trở ngại lớn cho các công ty ngành Nhựa để có thể thực hiện sản xuất cũng như gia tăng khả năng cạnh tranh  trong bối cảnh Việt Nam đã và đang tham gia ký kết hàng loạt các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương.

Việt Nam chủ yếu nhập khẩu nguyên liệu nhựa từ các quốc gia: ARập Xêút (PE, PP), Hàn Quốc (PP, PE, PET), Đài Loan (PP, ABS, PVC), Thái Lan (PE, PET), Trung Quốc (PP, PE, Polyester)…

Khoảng 60% khối lượng nguyên liệu nhựa nhập khẩu của Việt Nam là PE, PP và PET (hai nguyên liệu chính của ngành bao bì nhựa trong nước), tiếp theo là PVC - nguyên liệu chính của ngành nhựa vật liệu xây dựng.

Đối với các nguyên liệu nhựa trong nước không sản xuất được,chính phủ hỗ trợ các doanh nghiệp sản xuất nhựa trong nước bằng chính sách áp thuế nhập khẩu 0% đối với những dòng nguyên liệu nhựa này, ví dụ dòng nguyên liệu thuộc nhóm PolyEthylene (HDPE, LDPE, LLDPE).

Đứng đầu về tỷ trọng trong cơ cấu ngành nhựa trong nước, các công ty bao bì nhập khẩu nhiều nhất về nguyên liệu nhựa, chủ yếu là hạt nhựa PE, PP (chiếm 51% tổng khối lượng nhập khẩu của toàn ngành).

4. Cung cầu các sản phẩm nhựa

Các sản phẩm nhựa Việt Nam được chia làm 4 nhóm chính: nhựa bao bì, nhựa gia dụng, nhựa vật liệu xây dựng và nhựa kỹ thuật.

Ngành nhựa là một trong những ngành năng động, có mức tăng trưởng cao, nhưng đang phải chịu áp lực khá lớn trước các sản phẩm của các nước đối thủ cạnh tranh như Hàn Quốc, Nhật Bản, Thái Lan, Trung Quốc được đánh giá là mạnh hơn cả về công nghệ, mẫu mã, giá cả. Ðồng thời ngành nhựa phải đối mặt với nhiều khó khăn trong nâng cao năng lực cạnh tranh như giải quyết vấn đề phụ thuộc chủ yếu vào nguyên liệu nhập khẩu, thiếu lao động tay nghề cao, rào cản tiếp cận nguồn vốn đầu tư nâng cao trình độ công nghệ sản xuất.

Các sản phẩm được nhập khẩu chủ yếu là linh kiện, khuôn mẫu, nguyên liệu phục vụ hoạt động sản xuất, đầu tư. Ngoài ra cũng có sản phẩm nhựa tiêu dùng nhập khẩu để phân phối trong thị trường tiêu dùng nội địa, cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm sản xuất trong nước của Việt Nam.

Nhập khẩu của khối các doanh nghiệp FDI chiếm bình quân 74% tổng kim ngạch nhập khẩu .

Trung Quốc,Hàn Quốc,Nhật Bản vẫn là các thị trường chính cung cấp nguyên liệu và    sản phẩm nhựa cho Việt Nam

Nhập khẩu nguyên liệu và sản phẩm nhựa giai đoạn 2018-2022

Trị giá : Tỷ USD

 

2018

2019

2020

2021

2022

Chất dẻo nguyên liệu

9,083

9,016

8,397

11,759

12,450

Sản phẩm chất dẻo

5,924

6,544

7,274

7,971

8,209

                                                    Nguồn: Thống kê của Bộ Công Thương

Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là túi nhựa; tấm, phiến, màng nhựa; vải bạt; các          sản phẩm dùng trong vận chuyển, đóng gói ; sản phẩm nhựa gia dụng và sản phẩm  nhựa công nghiệp.Trong đó, sản phẩm có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất là túi nhựa, chủ yếu xuất sang Nhật Bản, Anh, Đức với mức tăng trưởng dương liên tục. Sản phẩm xuất khẩu tiềm năng là vải bạt, xuất chủ yếu sang Hoa            Kỳ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Hà Lan.

Nhìn chung thị trường xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt   Nam không có nhiều thay đổi ,lớn nhất vẫn là Nhật Bản , thứ hai là thị trường ASEAN, sau đó là thị trường EU và thị trường Hoa Kỳ.

Nhu cầu nhập khẩu sản phẩm nhựa tại thị trường châu Âu (EU), Nhật Bản vẫn ở mức cao, nhất là sản phẩm ống nhựa và túi nhựa. Đây cũng là thị trường truyền thống, doanh nghiệp có khả năng thâm nhập tốt. Doanh nghiệp sản xuất bao bì nhựa tăng cường mở rộng thị phần xuất khẩu sang thị trường châu Âu nhờ được hưởng lợi kép về giá thành và ưu đãi mức thuế nhập khẩu.

Xuất khẩu nguyên liệu và sản phẩm nhựa giai đoạn 2018-2022

                                                  Trị giá : Tỷ USD

 

2018

2019

2020

2021

2022

Chất dẻo nguyên liệu

0,968

1,265

1,348

2,263

2,294

Sản phẩm chất dẻo

3,045

3,436

3,654

4,930

5,447

                                                    Nguồn: Thống kê của Bộ Công Thương

 

                  Hình 02 : Sơ đồ chuyển dịch nhựa phế liệu trên toàn cầu

Hoạt động kinh doanh, tái chế chất thải nhựa mang lại nhiều lợi ích: tiết kiệm năng lượng cho sản xuất nhựa nguyên sinh;giúp tiết kiệm tài nguyên không thể tái tạo là dầu mỏ; giải quyết hàng loạt các vấn đề môi trường như mất mỹ quan đô thị, tắc nghẽn cống rãnh, suy thoái đất...Tuy nhiên, lĩnh vực xử lý và tái chế chất thải nhựa ở nước ta chưa phát triển, quy mô còn nhỏ lẻ, diễn ra chủ yếu ở một số doanh nghiệp nhỏ, vốn đầu tư hạn chế, công nghệ lạc hậu,thiếu quy hoạch…chỉ khoảng 27% nhựa phế thải được tái chế đúng cách và hiệu quả.

5. Tiềm năng ngành nhựa

Ở Việt Nam, so với các ngành công nghiệp lâu đời khác (như cơ khí, điện - điện tử, hoá chất, dệt may...), ngành công nghiệp nhựa còn khá mới. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, ngành Nhựa Việt Nam đã có sự phát triển mạnh mẽ, với mức tăng hàng năm từ 16% - 18%/năm (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may),có những mặt hàng tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%.

Với tốc độ phát triển nhanh, ngành Nhựa đang được coi là một ngành năng động trong nền kinh tế Việt Nam. Sự tăng trưởng mạnh mẽ đó xuất phát từ thị trường rộng, tiềm năng phát triển còn lớn,bởi ngành Nhựa Việt Nam mới chỉ ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới và sản phẩm nhựa được phát huy sử dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống. Duy trì mức tăng trưởng kinh tế ổn định (ở mức cao so với mặt bằng chung thế giới), đặc biệt nhu cầu ngành xây dựng, hạ tầng,tiêu dùng cũng như thu nhập bình quân đầu người ngày càng gia tăng (cùng với đó là sự gia tăng của tầng lớp trung lưu khiến nhu cầu mua sắm gia tăng) sẽ là động lực chính cho đầu ra ngành công nghiệp nhựa trong nước. Bên cạnh đó, các Hiệp định thương mại tự do Việt Nam đã và sẽ ký kết cũng là những yếu tố tích cực giúp cho sản phẩm nhựa Việt Nam gia tăng khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu sang các thị trường.

Tại Việt Nam, mức tiêu thụ chất dẻo bình quân trên đầu người tăng nhanh qua các năm gần đây, giai đoạn 2012-2014 ở mức 39 kg/người/năm tăng lên 54kg/người/năm vào 2018 và ước tính đạt 57-58 kg/người/năm trong năm 2020. Chỉ số tiêu thụ nhựa bình quân đầu người của Việt Nam khá tương đồng so với các quốc gia trong khu vực như Thái Lan,Trung Quốc (tương đương mức trung bình thế giới).

Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế - kỹ thuật về gia công chất dẻo, trong khi đó lại không chủ động được hoàn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất. Ngành nhựa hiện nay mới chỉ chủ động được khoảng 15-20% nguyên liệu cũng như hóa chất phụ gia đầu vào, còn lại phải nhập khẩu khiến cho hoạt động sản xuất của ngành bị phụ thuộc rất nhiều vào nguồn nguyên liệu và các bán sản phẩm từ nước ngoài.

Với kỳ vọng các nhà máy lọc hóa dầu mở rộng sản xuất,đạt công suất thiết kế thì nguồn nguyên liệu nhựa phục vụ sản xuất hàng xuất khẩu và tiêu thụ nội địa sẽ được chủ động hơn, nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm nhựa của Việt Nam.

Sản phẩm nhựa do các doanh nghiệp Việt Nam sản xuất đã có mặt ở hầu hết các ngành và được sử dụng ở nhiều lĩnh vực, ngành nghề khác nhau. Trong lĩnh vực tiêu dùng, sản phẩm từ nhựa được sử dụng làm bao bì đóng gói các loại, các vật dụng bằng nhựa dùng trong gia đình, văn phòng phẩm, đồ chơi…

Trong các ngành kinh tế khác, các sản phẩm từ nhựa được sử dụng ngày càng phổ biến; đặc biệt, trong một số lĩnh vực, nhựa còn trở thành một nguyên liệu thay thế cho các nguyên liệu truyền thống như xây dựng, điện - điện tử… Nhìn chung, sản phẩm nhựa nội địa có sức cạnh tranh tương đối tốt với các công ty nước ngoài tại Việt Nam, cũng như các mặt hàng nhựa nhập khẩu vào thị trường Việt Nam. Những DN nhựa nội địa đã, đang đẩy mạnh đầu tư công nghệ, nhà xưởng, liên kết cùng các công ty nước ngoài để tập trung đầu tư sản phẩm cho thị trường trong nước cũng như xuất khẩu. Những sản phẩm đòi hỏi chất lượng cao như ống dẫn dầu, đồ nhựa cho ôtô và máy vi tính cũng đã được các DN nhựa sản xuất thành công.

Không chỉ khẳng định ở thị trường trong nước, các sản phẩm nhựa của Việt Nam hiện nay đã có mặt tại hơn 150 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới như: Nhật Bản, Campuchia, Lào, Thái Lan, Trung Quốc, Ấn Độ, Trung Đông, châu Phi, EU, Mỹ….Hiện nay, nhu cầu nhập khẩu các sản phẩm nhựa tại thị trường Nhật Bản hàng năm vào khoảng trên 10 tỷ USD, sẽ là thị trường xuất khẩu sản phẩm nhựa tiềm năng nhất của Việt Nam.

Nhu cầu sản phẩm nhựa trên thị trường Liên minh châu Âu cũng được đánh giá cao, đặc biệt là nhu cầu về ống nhựa do các doanh nghiệp Việt Nam có khả năng thâm nhập tốt và đáp ứng được các tiêu chuẩn kỹ thuật, yêu cầu. Một số thị trường mới được đánh giá là có nhiều tiềm năng phát triển sản phẩm nhựa Việt Nam như: Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Đông Âu, châu Phi…

Những hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như EVFTA, CPTPP hay UKVFTA… có hiệu lực, cũng đồng nghĩa cơ hội xuất khẩu các sản phẩm nhựa cho các doanh nghiệp Việt Nam sẽ rộng mở.

Tuy nhiên, những thách thức đặt ra với ngành Nhựa cũng không nhỏ. Mặc dù số lượng doanh nghiệp đông đảo nhưng 80% doanh nghiệp  nhựa trong nước là doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, với trình độ công nghệ khá hạn chế, khoảng 85% thiết bị máy móc trong ngành phải nhập ngoại. Hơn 90% doanh nghiệp nhựa của Việt Nam là xưởng gia công cho nước ngoài, chưa làm chủ được thương hiệu cũng như sản phẩm. Thực tế ngành đang phải đối diện với nhiều khó khăn. Mẫu mã chủng loại của ngành Nhựa do Việt Nam sản xuất còn đơn điệu, chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà nhập khẩu. Đặc biệt, ngành Nhựa hiện nay đối mặt với một số khó khăn đó là chưa chủ động được nguồn nguyên liệu và phải nhập khẩu của nước ngoài, nên giá cả thành phẩm còn bấp bênh, không ổn định. Việc phụ thuộc nguyên liệu nhựa nhập khẩu đã và đang làm tăng chi phí đầu vào theo giá nguyên liệu nhập (giá nguyên liệu chiếm từ 60% đến 70% giá thành sản xuất) và tăng rủi ro tỷ giá, giảm sự chủ động, sức cạnh tranh và khó tận dụng được ưu đãi thuế quan, bởi những quy định về xuất xứ hàng hóa. Việc chưa chủ động được nguồn nguyên liệu sản xuất và hình thành công nghiệp hỗ trợ đã gây nên rất nhiều trở ngại cho sự tăng trưởng bền vững của ngành nhựa Việt Nam, nên mặc dù có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây nhưng ngành Nhựa Việt Nam chủ yếu được biết đến như một ngành gia công chất dẻo, giá trị gia tăng thấp

Ở nước ta, cơ cấu sản xuất nhựa chính bao gồm: Nhựa bao bì (39%), nhựa gia dụng (32%),nhựa xây dựng (14%), nhựa kỹ thuật (9%) và loại nhựa khác (6%).

Tiềm năng ngành nhựa bao bì  

Nhựa bao bì là dòng sản phẩm có giá trị gia tăng thấp nhưng lại chiếm tới 38% giá trị sản xuất và tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam. Ngành tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của dân cư gia tăng là yếu tố then chốt giúp ngành nhựa bao bì đảm bảo đầu ra vững chắc.Bao bì nhựa có thể được phân loại thành: Bao bì mềm, phục vụ chủ yếu cho ngành thực phẩm; Chai lọ nhựa đóng hộp phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực nước giải khát; Bao bì cứng.

Bao bì nhựa chiếm 460 trên tổng số công ty nhựa trên toàn quốc. Bình quân 66% giá trị xuất khẩu nhựa trung bình hàng năm của Việt Nam là nhựa bao bì. Nhựa bao bì cũng là mặt hàng nhựa xuất khẩu chủ yếu của ngành nhựa Việt Nam. Các thị trường chính bao gồm Mỹ, Nhật Bản, EU. Tuy có nhiều lợi thế về chi phí sản xuất thấp nhưng thị trường xuất khẩu túi, bao bì nhựa đang gặp một số khó khăn, cụ thể: EU đã thông qua quy định về hạn chế sử dụng túi nhựa và xu hướng chuyển sang dùng các loại túi, bao bì tự phân hủy. Tuy nhiên hàng nhựa bao bì Việt Nam xuất sang châu Âu thường phải đáp ứng những yêu cầu chất lượng cao, chủ yếu là bao bì cao cấp và bao bì tự hủy, nên quy định này sẽ không quá ảnh hưởng tới việc xuất khẩu của bao bì nhựa Việt Nam.

Ngành nhựa bao bì nước ta đang đứng trước nhiều tiềm năng phát triển vượt bậc, đặc biệt là sau thời gian đại dịch Covid-19. Tuy nhiên, sức ép và sự cạnh tranh cũng là những vấn đề nan giải. Đã có rất nhiều thương hiệu bao bì nhựa nổi tiếng của nước ta dần rơi vào tay các doanh nghiệp nước ngoài như Thái Lan, Hàn Quốc, Nhật Bản… Điều này làm cho thị phần của các doanh nghiệp nội địa ngày càng bị thu hẹp. Trong đó, ảnh hưởng nhiều nhất là những cơ sở nhỏ lẻ còn hạn chế về  tài chính, mẫu mã và công nghệ mới, trong khi giá thuê nhân công đang tăng lên từng ngày.

Chai nhựa được xem là bao bì quan trọng của rất nhiều ngành công nghiệp như: Thực phẩm, dược phẩm, mỹ phẩm,… ngày càng xuất hiện ngày càng nhiều công ty sản xuất và cung cấp chai nhựa uy tín góp phần thúc đẩy ngành nhựa.

Tiềm năng ngành nhựa gia dụng

Nhựa gia dụng chiếm khoảng 30% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm gia dụng như nội thất, tủ, đĩa, đồ chơi,và giầy dép. Các công ty trong nước chủ yếu tập trung sản xuất nhóm sản phẩm này, nhưng thường có biên lợi nhuận thấp, trong khi các công ty có vốn đầu tư nước ngoài tập trung ở phân khúc sản phẩm cao cấp, có giá trị và biên lợi nhuận cao.

Trong những năm gần đây, các sản phẩm nhựa gia dụng Việt Nam chiếm tới 90% thị phần nội địa và tập trung ở phân khúc bình dân. Mảng nhựa gia dụng cao cấp bị các công ty nước ngoài chiếm lĩnh với những chiến lược bài bản như: hệ thống phân phối hiện đại (hệ thống các cửa hàng bán sản phẩm kết hợp với hợp tác cùng các siêu thị, trung tâm thương mại), đầu tư công nghệ để đa dạng hóa sản phẩm nhằm đánh vào tâm lý xem trọng an toàn sức khỏe và phủ kín nhu cầu của người tiêu dùng.

Trước đây, các sản phẩm nhựa gia dụng mang xuất xứ Trung Quốc tràn ngập thị trường Việt, tuy nhiên vài năm trở lại đây, những thông tin về sản phẩm nhựa Trung Quốc thiếu an toàn cho người sử dụng đã kéo giảm mức tiêu thụ đã tạo cơ hội cho các sản phẩm trong nước phát triển.

Sau một thời gian dài, các thương hiệu nhựa quốc tế chiếm thị phần lớn nhựa gia dụng trong nước, thì các doanh nghiệp trong nước đã dần chinh phục được người dùng Việt. Sản phẩm của các doanh nghiệp Việt (như Duy Tân, Đại Đồng Tiến, Việt Á, Huy Phúc Chợ Lớn…) đang từng bước gìm được sự “bành trướng” của hàng nhựa Thái Lan, đã từng tràn ngập thị trường Việt.

Đẩy mạnh sản xuất nhựa gia dụng hiện đang và sẽ là xu thế phát triển ngành nhựa. Nhiều đối tác đang có xu hướng chuyển dần đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam để tận dụng chi phí sản xuất rẻ và các ưu đãi về thuế.

Tiềm năng ngành nhựa xây dựng

Nhựa vật liệu xây dựng chiếm bình quân 23% giá trị sản xuất, bao gồm các sản phẩm như ống nước, khung cửa chính, cửa sổ. Các yếu tố thúc đẩy phân khúc nhựa vật liệu xây dựng (VLXD) phát triển như: các dự án cơ sở hạ tầng quy mô lớn phục hồi; kích thước cồng kềnh của các sản phẩm nhựa VLXD khiến vận chuyển khó khăn do đó sản phẩm nhập ngoại kém cạnh tranh; thị hiếu tiêu dùng là những lợi thế giúp các công ty sản xuất nhựa VLXD không chịu nhiều cạnh tranh từ các công ty nước ngoài.

Xây dựng là lĩnh vực tiêu dùng nhựa lớn thứ hai chỉ sau bán lẻ. PVC là một trong những loại nhựa phổ biến nhất được sử dụng trong xây dựng. Nó được sử dụng trong nước uống và ống nước thải, khung cửa sổ, sàn và tấm lợp, tấm phủ tường, dây cáp và nhiều ứng dụng khác vì nó cung cấp một sự thay thế hiện đại cho các vật liệu truyền thống như gỗ, kim loại, cao su và thủy tinh. Những sản phẩm này thường nhẹ hơn, ít tốn kém hơn và cung cấp nhiều lợi thế về hiệu suất.

Nhựa xây dựng hiện nay gồm có 2 dòng sản phẩm chính là ống nhựa và thanh nhựa profile, được sử dụng chủ yếu trong hệ thống cửa thay thế các loại vật liệu khác như gỗ, sắt thép...Trong đó, những sản phẩm thanh nhựa uPVC profile phủ lớp giả gỗ được dự đoán sẽ được thị trường ưa chuộng, bởi giá thành cạnh tranh, mẫu mã đẹp và chất lượng tương xứng.

Việt Nam hiện có khoảng 10 doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực nhựa xây dựng (sản xuất thanh nhựa profile) với công suất 20.000-25.000 tấn/năm, trong đó chỉ riêng Nhựa Đông Á là 15.000-20.000 tấn/năm. Mặc dù có nhiều dư địa phát triển, nhưng ngành nhựa Việt Nam đứng trước thách thức cạnh tranh khá gay gắt. Ngành nhựa không thể tránh khỏi nguy cơ bị thấu tóm bởi những doanh nghiệp ngoài nước, thông qua con đường M&A (Tập đoàn SCG (Thái Lan) đã mua lại cổ phần của 2 doanh nghiệp lớn trong nhành nhựa hiện nay là Nhựa Bình Minh và Nhựa Tiền Phong thông qua một công ty con là The Nawaplastic Industry (Saraburi) Co, Ltd).

Tiềm năng ngành  nhựa kỹ thuật

Nhựa kỹ thuật thường được biết đến là vật liệu kỹ thuật mới có tính chất tính chất cách điện, tính chất hóa học, khả năng chịu nhiệt, chống mài mòn, ổn định kích thước và các đặc tính khác.So với vật liệu kim loại, nhựa kỹ thuật có nhiều ưu điểm: dễ gia công, hiệu quả sản xuất cao, tiết kiệm năng lượng, hiệu suất cách nhiệt tốt, trọng lượng nhẹ, trọng lượng riêng khoảng 1,0 đến 1,4, nhẹ hơn ¾ so với nhôm và thép; Với khả năng chống mài mòn vượt trội, chống ăn mòn…Nó là một sản phẩm ứng dụng tốt trong sản xuất máy móc.

Từ giữa những năm 1970, một số loại nhựa kim loại tương tự có khả năng chịu nhiệt tốt hơn và độ bền hơn đã xuất hiện. Vài năm qua, các nhà hóa học đã phát triển một loại nhựa siêu kỹ thuật có độ bền cao chịu nhiệt độ cao có thể thay thế thủy tinh và kim loại. Loại nhựa này là một loại vật liệu mới kết hợp các đơn vị dựa trên lưu huỳnh vào chuỗi các polyme nhựa. Nhựa này có khả năng chống axit, ăn mòn tuyệt vời và chịu nhiệt độ cao. Nhựa cũng có thể được thêm vào các vật liệu như thủy tinh và thép không gỉ để chế tạo các thiết bị cần khử trùng ở nhiệt độ cao (như thiết bị y tế, máy móc chế biến thực phẩm, v.v.). Ngoài ra, nhựa cũng có thể được ứng dụng trong sản xuất máy sấy tóc, bàn là, vỏ máy bay và mũ bảo hiểm phi hành gia.

Hình dạng nhựa kỹ thuật có nhiều loại như: dạng tấm, dạng cây, dạng cuộn...Hiện nay, tại Việt Nam, vật liệu nhựa kỹ thuật được ứng dụng rất nhiều trong các lĩnh vực công nghiệp sản xuất và mô hình đặc thù vật liệu được sử dụng nhiều nhất là Phíp Cam (Bakelite), Teflon (PTFE), PE (HDPE, UHMW-PE Cao Phân Tử), Delrin (POM), Nylon (PA, MC),...

5 ứng dụng hàng đầu của nhựa kỹ thuật trong ngành công nghiệp hiện nay tại Việt Nam:

- Hỗ trợ thi công trong ngành quảng cáo, nội thất và xây dựng.

- Sử dụng làm tấm lót, vách ngăn, vách ngăn chống tĩnh điện (ESD) và chống thấm.

- Ứng dụng làm bảng mạch điện tử có kỹ thuật cao trong ngành điện tử hiện nay.

- Ứng dụng làm chi các chi tiết máy móc có khả năng cách điện công nghiệp tốt.

- Ứng dụng làm khuôn trong các nhà máy may mặc, thời trang.

Các loại sản phẩm nhựa kỹ thuật thông dụng trên thị trường :

- ABS, PMMA, PS, PB, PVC, PP, PE, loại dùng cho kỹ thuật gồm PA, POM, PC, PET, UHMW-PE, loại đặc chủng gồm có PEEK, PES, PPS, PSU, PI, PAI, PTFE, PVDF, PCTFE, PEI, POB, PPO.

- Phíp ngọc (nhựa Epoxy FR4) hay còn gọi là phíp cách điện; Nhựa Teflon (PTFE) - Hệ số ma sát cực kỳ thấp, đứng thứ 2 sau kim cương.

- Nhựa PU là hợp chất được làm từ nhựa tổng hợp PU có độ bền cao và có 1 số tính năng tương tự như cao su.

- Nhựa PE cho ứng dụng lót trượt.

- Nhựa Pa tấm có độ cưng cao, ít mài mòn, hệ số ma sát thấp, ko hút ẩm, cách điện...

- Nhựa MC là loại nhựa có chất lượng tốt nhất, chống mài mòn cao, chụi lực va đập mạnh.

- Nhựa PC (Polycarbonate) là một loại nhựa kỹ thuật có dạng trong suốt với tính ổn định và dẻo dai ...

- Nhựa PC - Polypropylen là một loại polyme, là sản phẩm của phản ứng trùng hợp Propylen.

- Nhựa PVC hay còn gọi là Poly – vinyl chloride  thường được dùng chế tạo Cọc tiêu giao thông nhựa mềm PVC ; Màn nhựa PVC ngăn côn trùng

- Nhựa POM tấm là vật liệu nhựa tổng hợp, có độ bền cơ học cao, chịu va đập, tính chất hóa, lý tốt... ...

Tiềm năng ngành  nhựa tái chế

Hơn 70% vật dụng thường dùng mà chúng ta nhìn thấy được làm bằng nhựa.  Mất khoảng 10 - 100 năm để một bao nhựa có thể phân hủy, một số vật dụng bằng nhựa phải mất tới 500 - 1.000 năm để có thể phân hủy hoàn toàn. Thống kê có tới 32% tổng bao bì nhựa thải ra đại dương mỗi năm. Con số này rất đang báo động và chúng ta cần có nhiều giải pháp để giảm thiểu tình trạng này.

Tái chế được hiểu là quá trình biến rác thải hoặc vật liệu không cần thiết như. (phế liệu) thành vật liệu mới với khả năng ứng dụng đem lại lợi ích cho con người.

Kiểm tra các ký hiệu ngay trên chính các đồ dùng nhựa được đánh số từ 1 đến 7 và các chữ viết tắt như PETE, PP, PS… sẽ biết được mức độ an toàn của từng loại nhựa và xem chúng có thể sử dụng làm nhựa tái chế được hay không.

Cơ bản thì tái chế là công việc không dễ dàng, nó đòi hỏi chi phí và thời gian, phân loại riêng biệt từng loại nhựa và kiểm soát được số lần tái chế của từng loại nhựa.

Ngoài ra thì tái chế nhựa tồn tại một hạn chế đó là nguy cơ nhiễm chéo. Thực phẩm thừa và hư hỏng đựng trong hộp nhựa không thể được mang vào tái chế. Chúng cần được làm sạch và loại bỏ tạp. Quy trình này cũng tiêu tốn khá nhiều thời gian và công sức. Do đó, chỉ có một số loại nhựa được mang đi tái chế.

Để khuyến khích đầu tư nhiều hơn vào các dây chuyền tái chế nhựa tiềm năng, sẽ cần sự tác động từ giới chính trị lẫn nhận thức về môi trường của mọi người dân.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tiếng Việt:

1. Báo cáo xuất nhập khẩu, Cục xuất nhập khẩu, Bộ Công Thương

2. Báo cáo xuất nhập khẩu, Cục Công nghệ tin học &Thống kê - Hải quan

3. Niên giám nhựa Việt Nam 2019-2021. Hiệp hội nhựa Việt Nam

4. Thống kê Vụ Công nghiệp , Tổng cục Thống kê 2010- 2022;

Tiếng Anh:

1. Life cycle of a plastic product 

2. “Terminology for biorelated polymers and applications (IUPAC Recommendations 2012)” (PDF). Pure and Applied Chemistry. 

3. "Scientists could have finally created the 'holy grail' of plastic". The Independent.

4. Andrady AL, Neal MA (2009). “Applications and societal benefits of plastics”. Philos. Trans. R. Soc. Lond., B, Biol. Sci. 

5. Christel Trimborn (August 2004). "Jewelry Stone Make of Milk". GZ Art+Design.

6. Thompson RC, Swan SH, Moore CJ, vom Saal FS (tháng 7 năm 2009). “Our plastic age”. Philos. Trans. R. Soc. Lond., B, Biol. Sci. 

7. UK Patent office (1857). Patents for inventions. UK Patent office. tr. 255.

8.Stephen Fenichell, Plastic: The Making of a Synthetic Century, HarperBusiness, 1996, ISBN 0-88730-732-9 p. 17

9. “Dictionary - Definition of celluloid”. Websters-online-dictionary.org. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 12 năm 2009. Truy cập ngày 26 tháng 10 năm 2011.

10.Tullo, Alexander H. (27 July 2015). "Global Top 50 Chemical Companies". Chemical & Engineering News. American Chemical Society.

11.Hans-Georg Elias "Plastics, General Survey" in Ullmann's Encyclopedia of Industrial Chemistry, 2005, Wiley-VCH, Weinheim. 

12. Teuten EL, Saquing JM, Knappe DR, và đồng nghiệp (tháng 7 năm 2009). “Transport and release of chemicals from plastics to the environment and to wildlife”. Philos. Trans. R. Soc. Lond., B, Biol. Sci. 

13.Kulshreshtha, A.K.; Vasile, Cornelia (2002). Handbook of Polymer Blends and Composites. iSmithers Rapra Publishing. 

14.Seymour, Raymond Benedict; Deaning, Rudolph D. (1987). History of Polymeric Composites.

15.Teuten EL, Saquing JM, Knappe DR; và đồng nghiệp (2009). “Transport and release of chemicals from plastics to the environment and to wildlife”. 

16.Hahladakis, John N.; Velis, Costas A.; Weber, Roland; Iacovidou, Eleni; Purnell, Phil (February 2018). "An overview of chemical additives present in plastics: Migration, release, fate and environmental impact during their use, disposal and recycling". Journal of Hazardous Materials. 

Vũ Huy Hùng

Phòng Thông tin và xúc tiến thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC