NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Những vấn đề về xuất khẩu nông sản của Việt Nam (phần 1)

I. Khái niệm và các hình thức xuất khẩu nông sản

Xuất khẩu nông sản đóng một vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, đặc biệt đối với các nước đang phát triển. Hoạt động này giúp ích trong việc kích thích tăng trưởng kinh tế, gia tăng thu nhập quốc dân và là thành phần chính trong giải quyết công ăn việc làm.

1. Khái niệm xuất khẩu

Theo Adam Smith, phân công lao động xã hội dẫn đến chuyên môn hóa sản xuất, quá trình chuyên môn hóa sản xuất sẽ tạo ra một khối lượng hàng hóa lớn không chỉ đáp ứng đủ nhu cầu trong nước mà còn có thể xuất khẩu ra nước ngoài. Còn theo học thuyết lợi thế so sánh của David Ricardo thì khi một quốc gia sản xuất và đem trao đổi những mặt hàng có lợi thế tương đối của mình với một quốc gia khác thì cả hai quốc gia đều thu được lợi nhuận. Như vậy, xuất khẩu hàng hóa là một hoạt động tất yếu xảy ra khi phân công lao động xã hội đạt được một trình độ nhất định. Ta có nhiều cách hiểu khác nhau về xuất khẩu hàng hóa như:

Xuất khẩu hàng hóa là hoạt động đưa hàng hóa ra khỏi một nước (từ quốc gia này sang quốc gia khác) để bán trên cơ sở dùng tiền làm phương tiện thanh toán hoặc trao đổi lấy một hàng hóa khác có giá trị tương đương. Nói một cách khái quát, xuất khẩu hàng hóa là việc đưa hàng hóa ra nước ngoài để thực hiện giá trị sử dụng và giá trị của hàng hóa.

Theo luật pháp Việt Nam: Hoạt động xuất khẩu hàng hóa là hoạt động bán hàng của thương nhân Việt Nam với thương nhân nước ngoài theo hợp đồng mua bán hàng hóa, bao gồm cả hoạt động tạm nhập tái xuất và chuyển khẩu hàng hóa.

Tóm lại, xuất khẩu hàng hóa nói một cách đơn giản nhất là việc bán một sản phẩm ra thị trường nước ngoài. Xuất khẩu thuần túy là một chức năng của hoạt động thương mại.

2. Các hình thức xuất khẩu chủ yếu

Hoạt động xuất khẩu hàng hóa diễn ra vô cùng phong phú và đa dạng, những hình thức xuất khẩu hàng hóa chủ yếu là:

Xuất khẩu trực tiếp

Là hình thức xuất khẩu, trong đó người bán (người sản xuất, người cung cấp) và người mua quan hệ trực tiếp với nhau (bằng cách gặp mặt, qua thư từ, điện tín) để bàn bạc thỏa thuận về hàng hóa, giá cả và các điều kiện giao dịch khác.

Xuất khẩu qua trung gian

Là hình thức mua bán quốc tế được thực hiện nhờ sự giúp đỡ của trung gian thứ ba và người thứ ba này sẽ được hưởng một khoản tiền nhất định. Người trung gian phổ biến trong các giao dịch quốc tế là đại lý và môi giới.

Xuất khẩu tại chỗ

Là hình thức xuất khẩu ngay tại đất nước mình. Đó là việc bán hàng và thực hiện các dịch vụ cho người nước ngoài. Hàng xuất khẩu tại chỗ có thể dùng ngay tại chỗ hoặc được người mua đem ra nước ngoài.

Hình thức tái xuất khẩu

Là hình thức thực hiện xuất khẩu trở lại sang các nước mua khác những hàng hóa đã mua ở nước ngoài nhưng chưa qua chế biến ở nước tái xuất. Mục đích của thực hiện giao dịch tái xuất khẩu là mua hàng hóa ở nước này rồi bán hàng hóa với giá cao hơn ở nước khác và thu về số vốn lớn hơn số vốn bỏ ra ban đầu.

Hoạt động tái xuất khẩu có thể chia làm hai hình thức: hình thức tạm nhập - tái xuất và hình thức chuyển khẩu, trong đó:

Hình thức tạm nhập - tái xuất được hiểu là việc mua hàng của một nước để bán cho nước khác trên cơ sở hợp đồng mua bán ngoại thương, làm thủ tục nhập khẩu hàng hóa vào, rồi sau đó làm thủ tục xuất khẩu mà không qua gia công chế biến.

Hàng hóa chuyển khẩu được chia thành hai loại. Một là, hàng hóa sau khi nhập cảnh được cơ quan hải quan cho vận chuyển đến một địa điểm hải quan khác để làm thủ tục hải quan nhập khẩu. Hai là, hàng hóa ở nơi vận chuyển ban đầu đã làm thủ tục hải quan xuất nhập khẩu vận chuyển đến một nơi xuất cảnh, do hải quan nơi xuất cảnh giám sát quản lý cho qua.

Gia công xuất khẩu

Là phương thức sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó người đặt hàng gia công ở nước ngoài cung cấp: máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm theo mẫu và định mức cho trước. Người nhận gia công trong nước tổ chức quá trình sản xuất sản phẩm theo nhu cầu của khách. Toàn bộ sản phẩm làm ra người nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để nhận tiền công.

II. Một số lý thuyết liên quan đến trao đổi thương mại

1. Lý thuyết về lợi thế tuyệt đối

Adam Smith (1723 - 1790) là người đầu tiên đưa ra sự phân tích có tính hệ thống về nguồn gốc của thương mại quốc tế. Từ việc xây dựng mô hình thương mại đơn giản dựa trên ý tưởng về lợi thế tuyệt đối, ông đã giải thích lợi ích thu được từ thương mại quốc tế đối với các quốc gia. Ông cho rằng, lợi ích của thương mại quốc tế thu được do thực hiện nguyên tắc phân công lao động. Nguyên tắc này đòi hỏi mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa, tập trung sản xuất những hàng hóa mà quốc gia đó có lợi thế tuyệt đối, thông qua đó cho phép quốc gia đó sản xuất sản phẩm với chi phí thấp hơn các quốc gia khác, sau đó tiến hành trao đổi với các quốc gia khác thì cả hai bên đều có lợi. Trong điều kiện đó, đòi hỏi quốc gia phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực của mình. Các nguồn lực là đội ngũ lao động có tay nghề, được đào tạo thích hợp; là nguồn vốn; là tiến bộ khoa học công nghệ; là sự ưu đãi của thiên nhiên về địa lý, khí hậu, đất đai…Trong thương mại quốc tế, các nguồn lực sản xuất của cả thế giới sẽ được sử dụng một cách có hiệu quả nhất và do đó tổng sản phẩm của thế giới sẽ tăng lên.

Như vậy, lợi thế tuyệt đối đã mô tả được hướng chuyên môn hóa và trao đổi giữa các quốc gia và giải thích được một phần lý do của thương mại quốc tế đối với một số mặt hàng và giữa các nước đang phát triển với các nước phát triển.

Tuy nhiên, với mô hình này không thể giải thích được vấn đề tại sao thương mại quốc tế lại diễn ra đối với tất cả các mặt hàng và giữa các nước phát triển. Chẳng hạn, một quốc gia nếu có sự bất lợi trong việc sản xuất tất cả các loại sản phẩm, hoặc giữa các nước đó có điều kiện tương tự nhau về chi phí sản xuất các loại hàng hóa thì liệu có thương mại quốc tế không? Để giải thích vấn đề này, lý thuyết lợi thế so sánh của David Ricacdo (1772 - 1823) đã ra đời.

2. Lý thuyết về lợi thế so sánh

Nếu như lý thuyết về lợi thế tuyệt đối xây dựng trên cơ sở sự khác biệt lượng lao động thực tế được sử dụng ở các quốc gia khác nhau (nói cách khác là khác biệt về hiệu quả sản xuất tuyệt đối) thì lý thuyết lợi thế so sánh lại xuất phát từ hiệu quả sản xuất tương đối. Theo David Ricacdo, nếu một quốc gia có hiệu quả thấp hơn so với các quốc gia khác trong hầu hết các loại sản phẩm thì quốc gia đó vẫn có thể tham gia vào thương mại quốc tế để tạo ra lợi ích cho quốc gia mình, bằng cách chuyên môn hóa tập trung sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa có lợi thế tương đối và nhập khẩu những hàng hóa mà việc sản xuất chúng gặp nhiều bất lợi nhất. Như vậy thương mại quốc tế vẫn có thể diễn ra cho mọi quốc gia trên thế giới, cho phép các quốc gia sử dụng hợp lý, có hiệu quả các nguồn lực của mình đồng thời mang lại lợi ích cho cả đôi bên, cũng như làm cho của cải thế giới tăng lên.

Lý thuyết về lợi thế so sánh cho rằng, nếu một quốc gia biết tập trung vào sản xuất, trao đổi những hàng hóa mà việc sản xuất chúng thể hiện mối tương quan thuận lợi giữa các mức chi phí cá biệt của quốc gia đó so với mức trung bình của thế giới, đồng thời biết lựa chọn và kết hợp hợp lý giữa ưu thế của quốc gia mình với ưu thế của quốc gia khác thì sẽ đạt được hiệu quả tối đa mặc dù nguồn lực có bị hạn chế. Vì một quốc gia mà việc sản xuất các loại hàng hóa và dịch vụ không có hiệu quả bằng các quốc gia khác nhưng trong nhiều trường hợp họ vẫn thu được lợi ích, thậm chí lợi ích cao hơn những quốc gia khác nếu quốc gia đó chuyên môn hóa sản xuất và xuất khẩu những hàng hóa đòi hỏi nguồn lực tương đối rẻ và sẵn có trong nội địa, nhập khẩu những hàng hóa mà việc sản xuất ra chúng cần nhiều yếu tố đắt và khan hiếm trong nước.

Mặc dù lý thuyết lợi thế so sánh vẫn còn gặp một số bế tắc khi giải quyết các vấn đề phức tạp của thương mại quốc tế hiện đại, nhưng lý thuyết này đã đóng vai trò quan trọng trong việc chi phối sự phát triển của thương mại quốc tế, là cơ sở khoa học để mỗi quốc gia lựa chọn và xác định các sản phẩm xuất khẩu phù hợp dựa trên cơ sở phân tích các lợi thế so sánh về nguồn lực sản xuất, từ đó tham gia tích cực vào phân công và hợp tác quốc tế, góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia và của thế giới.

Ngoài các học thuyết về lợi thế tuyệt đối và lợi thế so sánh còn có nhiều học thuyết khác giải thích nguyên nhân của thương mại quốc tế như học thuyết về nhân tố của Neckschen - Ohlin, học thuyết về kinh tế theo quy mô về chu kỳ sống của sản phẩm…nhưng có lẽ học thuyết về lợi thế so sánh của David Ricacdo giải thích rõ ràng hơn nguyên nhân của Thương mại quốc tế. Theo học thuyết về lợi thế so sánh của David Ricacdo các hàng nông sản Việt Nam vẫn còn sức cạnh tranh cao trên thị trường thế giới trong đó có thị trường Trung Quốc. Việt Nam vẫn là một quốc gia nông nghiệp không có nguồn vốn tài chính dồi dào, thế mạnh của Việt Nam trong cạnh tranh quốc tế là nguồn lực lao động sẵn có và rẻ tiền.

3. Lý thuyết về lợi thế cạnh tranh

Lý thuyết về lợi thế so sánh được áp dụng rộng rãi trong thương mại quốc tế. Tuy nhiên, hiện nay để nghiên cứu quan hệ kinh tế, thương mại giữa các nước, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến một số tiêu chí dùng để so sánh trình độ phát triển kinh tế giữa các nước với nhau như môi trường kinh doanh, chất lượng nguồn nhân lực, vai trò của thể chế, hệ thống tài chính, độ mở của nền kinh tế…Tổng hợp các yếu tố trên người ta thường dùng khái niệm lợi thế cạnh tranh hay tính cạnh tranh của quốc gia. Đó là năng lực của nền kinh tế quốc dân để đạt và duy trì được mức tăng trưởng cao trên cơ sở các chính sách, thể chế và đặc trưng kinh tế khác. Theo M.Porter thì lợi thế cạnh tranh của một quốc gia phụ thuộc vào các yếu tố như: (1) Điều kiện hay tình trạng về nhân tố sản xuất thể hiện vị thế quốc gia về nguồn nhân lực, tài nguyên thiên nhiên, vốn, kết cấu hạ tầng, tiềm năng khoa học kỹ thuật…(2) Tình trạng về nhu cầu trong nước phản ánh bản chất của nhu cầu thị trường tại quốc gia đó đối với sản phẩm và dịch vụ một ngành; (3) Chiến lược, cơ cấu công ty và đối thủ cạnh tranh thể hiện cách thức, môi trường mà trong đó công ty được thành lập, tổ chức và quản lý cũng như trạng thái, bản chất của các đối thủ cạnh tranh trong nước; (4) Thực trạng các ngành công nghiệp hỗ trợ và liên quan có khả năng cạnh tranh quốc tế; (5) Các yếu tố bất thường như: phát minh khoa học, công nghệ sinh học, đột biến chi phí đầu vào như cú sốc tiền tệ, thị trường tài chính tiền tệ, tăng cầu đột biến, các sự việc bất khả kháng như đảo chính, chiến tranh…và (6) Vai trò của Chính phủ trong việc tác động lên các nhân tố xác định lợi thế cạnh tranh quốc gia.

Để đánh giá khả năng cạnh tranh thường căn cứ vào Chỉ số khả năng cạnh tranh. Theo Diễn đàn kinh tế Thế giới (WEF), chỉ số khả năng cạnh tranh bao gồm 2 chỉ số quan trọng là Chỉ số khả năng cạnh tranh tăng trưởng (Growth Competitiveness Index) và Chỉ số khả năng cạnh tranh hiện tại (Current Competitiveness Index). Thông qua việc xếp hạng này, có thể đánh giá được năng lực cạnh tranh của quốc gia này so với các quốc gia khác. Theo WEF, năm 2008 Việt Nam được xếp thứ 70 trên tổng số 134 nước được xem xét.

Nghiên cứu quan hệ hợp tác kinh tế thương mại về thực chất là nghiên cứu quan hệ cạnh tranh. Do đó khi nghiên cứu về mối quan hệ thương mại hàng nông sản giữa Việt Nam và Trung Quốc, luận án sẽ tập trung làm rõ khả năng cạnh tranh của nông sản Việt Nam với các đối tác thương mại khác tại thị trường Trung Quốc. Kết quả nghiên cứu đánh giá khả năng cạnh tranh sẽ làm sáng tỏ tương quan lực lượng giữa Việt Nam và các đối tác thương mại khác tại thị trường Trung Quốc, từ đó đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm tận dụng cơ hội và hạn chế những khó khăn, thách thức.

4. Lý thuyết về địa kinh tế, địa chính trị

Trong thời gian gần đây, khi phân tích quan hệ kinh tế thương mại giữa các nước trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, các nhà nghiên cứu thường nói nhiều đến các yếu tố địa kinh tế và địa chính trị của các quốc gia.

Địa kinh tế là khoa học nghiên cứu các đặc điểm địa lý ảnh hưởng đến tiến trình phát triển kinh tế của một vùng, một quốc gia, thậm chí một khu vực rộng lớn bao gồm nhiều quốc gia khác nhau.

Địa chính trị là khoa học nghiên cứu các yếu tố địa lý chi phối xu thế và thái độ chính trị của quốc gia hoặc khu vực. Học thuyết này được Chính phủ các nước vận dụng để phân tích bối cảnh chính trị thế giới, từ đó đưa ra các quyết sách định hướng các quan hệ quốc tế phục vụ cho lợi ích kinh tế và chính trị của mình.

Lương Thanh Hải

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC