NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Một số giải pháp đáp ứng quy tắc xuất xứ hàng dệt may xuất khẩu khi tham gia các hiệp định thương mại tự do

27/02/2024

1. Quy tắc xuất xứ hàng hóa

1.1.Một số khái niệm về quy tắc xuất xứ hàng hóa

Quy tắc xuất xứ hàng hoá là tập hợp các quy định để xác định quốc gia nào được coi là đã sản xuất ra hàng hoá. Quy tắc xuất xứ thường được áp dụng trong thương mại quốc tế nhằm đưa ra những quy định đối với nước nhập khẩu và nước xuất khẩu.

Trong một số trường hợp, các nước nhập khẩu cần biết xuất xứ hàng hoá nhập khẩu để xác định quy chế đặc biệt áp dụng cho hàng hoá đó như ưu đãi thuế quan, thuế chống bán phá giá…

Hiện nay, rất nhiều các quốc gia tham gia mạnh mẽ vào chuỗi cung ứng toàn cầu, rất nhiều sản phẩm được sản xuất theo các công đoạn khác nhau, mỗi công đoạn thực hiện ở một nước nhằm tận dụng những lợi thế riêng của mỗi nước (như lợi thế về nguồn nhân công, nguyên liệu, công nghệ kỹ thuật…). Do vậy quy tắc xuất xứ rất cần thiết để xác định được xuất xứ chính thức của các hàng hoá này từ đó áp dụng quy chế liên quan.

Trong Hiệp định về quy tắc xuất xứ của WTO đã định nghĩa: Quy tắc xuất xứ là những luật, quy định, quyết định hành chính chung do các thành viên áp dụng để xác định nước xuất xứ của hàng hoá với điều kiện là quy tắc xuất xứ này không liên quan đến thoả thuận thương mại hoặc chế độ thương mại tự chủ có áp dụng ưu đãi thuế quan ngoài phạm vi điều chỉnh của khoản 1 Điều I của GATT 1994 (quy tắc xuất xứ nêu tại khoản 1 bao gồm tất cả các quy tắc xuất xứ được sử dụng trong các công cụ chính sách thương mại không ưu đãi như đối xử tối huệ quốc, thuế chống phá giá và thuế đối kháng, các biện pháp tự vệ, hạn ngạch thuế quan áp dụng phân biệt đối xử, bao gồm cả quy tắc xuất xứ được sử dụng trong mua sắm chính phủ và số liệu thống kê thương mại.).

Nghị định số 19/2006/NĐ-CP ngày 20/2/2006 của Chính phủ quy định chi tiết Luật thương mại về xuất xứ hàng hóa đưa ra khái niệm như sau:

- Xuất xứ hàng hoá là nước hoặc vùng lãnh thổ nơi sản xuất ra toàn bộ hàng hoá hoặc thực hiện công đoạn chế biến cơ bản cuối cùng đối với hàng hoá trong trường hợp có nhiều nước hoặc vùng lãnh thổ tham gia vào quá trình sản xuất ra hàng hoá đó.

- Quy tắc xuất xứ là điều khoản cụ thể được xây dựng theo nguyên tắc luật quốc gia hoặc các Hiệp định quốc tế để một nước áp dụng trong việc xác định xuất xứ hàng hoá.

Như vậy, Quy tắc xuất xứ hàng hoá là những quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng hoá trong các Hiệp định thương mại tự do có thoả thuận ưu đãi về thuế quan và ưu đãi phi thuế quan, mỗi Hiệp định khác nhau sẽ có những quy định về nguồn gốc xuất xứ khác nhau.

1.2. Quy tắc xuất xứ hàng dệt may

Từ định nghĩa về quy tắc xuất xứ hàng hoá, quy tắc xuất xứ hàng dệt may có thể được định nghĩa như sau:

Quy tắc xuất xứ hàng dệt may là những quy định về xuất xứ áp dụng cho hàng dệt may được thoả thuận trong các Hiệp định thương mại tự do để áp dụng các ưu đãi thuế quan và ưu đãi phi thuế quan đối với các bên tham gia.

Các nước tham gia Hiệp định thương mại tự do sẽ đưa ra thoả thuận chung về quy tắc xuất xứ áp dụng cho hàng dệt may, là mặt hàng được xuất nhập khẩu giữa các bên tham gia Hiệp định. Quy định về quy tắc xuất xứ sẽ xác định được quốc gia đủ điều kiện hướng các ưu đãi về thuế quan và ưu đãi phi thuế quan. Quốc gia đáp ứng được quy định về quy tắc xuất xứ sẽ được hưởng các ưu đãi nêu ra trong các điều khoản của Hiệp định.

2.  Vai trò của quy tắc xuất xứ hàng dệt may

- Thứ nhất, quy tắc xuất xứ hàng dệt may xác định hàng dệt may khi xuất nhập khẩu có được hưởng ưu đãi thương mại hay không, đó là các ưu đãi thuế quan và phi thuế quan. Nếu không có quy tắc xuất xứ, sẽ xuất hiện hiện tượng chệch hướng thương mại khi hàng dệt may nhập khẩu từ các nước không tham gia FTA sẽ vào khu vực FTA thông qua các nước thành viên áp dụng mức thuế thấp nhất đối với hàng dệt may nhập khẩu từ các nước không tham gia FTA.

- Thứ hai, quy tắc xuất xứ hàng dệt may được quy định nhằm thực thi các công cụ thương mại như thuế chống bán phá giá, thuế đối kháng, biện pháp tự vệ…

- Thứ ba, phục vụ việc thực thi các quy định pháp luật về nhãn và ghi nhãn hàng hoá, góp phần thực hiện công tác thống kê thương mại như xác định lượng nhập khẩu và giá trị nhập khẩu…

- Thứ tư, quy tắc xuất xứ hàng dệt may không chỉ là một công cụ kỹ thuật để thực thi FTA mà còn là công cụ chính sách thương mại. Quy tắc xuất xứ hàng dệt may sẽ là giảm lợi thế cạnh tranh của các nước nằm ngoài FTA, tăng cường xuất nhập khẩu hàng dệt may giữa các quốc gia tham gia FTA.

- Thứ năm, quy tắc xuất xứ hàng dệt may với các điều kiện, tiêu chí và quy định đối với hàng dệt may có tác dụng giới hạn độ mở của các FTA để các nước tham gia FTA tránh được sự gia tăng nhập khẩu hàng dệt may ngoài khả năng kiểm soát của quốc gia đó. Do đó, quy tắc xuất xứ hàng dệt may có tác dụng trong việc bảo hộ ngành công nghiệp dệt may của các nước tham gia FTA.

- Thứ sáu, quy tắc xuất xứ hàng dệt may có vai trò cân bằng xu hướng mở trong hội nhập thương mại quốc tế và xu hướng đóng là xu hướng bảo hộ ngành dệt may của các nước. Hai xu hướng này luôn tồn tại song song gây ra những mâu thuẫn trong hệ thống thương mại toàn cầu nhưng sẽ thúc đẩy phát triển ngành dệt may của các quốc gia khác nhau.

3. Cơ hội và thách thức đối với xuất khẩu hàng dệt may khi đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ khi tham gia FTAs

3.1. Cơ hội

Ưu đãi về thuế quan

Khi đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ, các nước tham gia sẽ được hưởng ưu đãi về thuế dành cho hàng dệt may khi một FTA có hiệu lực. Trong đó, hầu hết các mặt hàng dệt may sẽ được hưởng thuế suất 0% khi xuất khẩu vào các nước thành viên tham gia FTA đó, một số mặt hàng còn lại có lộ trình xóa bỏ thuế trong vòng 3-5 đến 10 năm. Hầu hết các nước có biểu thuế áp dụng chung cho tất cả các nước còn lại. Xuất khẩu dệt may của các nước tham gia FTA sẽ tăng trưởng nhanh khi thuế suất giảm.

Việc giảm và xoá bỏ thuế sẽ dẫn đến sự gia tăng nhanh chóng nguồn hàng dệt may nhập khẩu giữa các nước cùng tham gia FTA do giá thành rẻ hơn, chất lượng và mẫu mã đa dạng, phong phú hơn. Giảm thuế giúp cho việc mở rộng thị phần hàng dệt may nhập khẩu tại các nước tham gia FTA.

Tăng tỷ lệ nội địa hóa

Một số nước trong đó có Việt Nam sản xuất hàng dệt may xuất khẩu vẫn phụ thuộc nhiều vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu, ngành công nghiệp hỗ trợ chưa phát triển, thực hiện phương thức xuất khẩu gia công là chính. Đối với phương thức gia công, các tổ chức mua hàng có thể cung cấp toàn bộ đầu vào để sản xuất sản phẩm bao gồm mẫu thiết kế, nguyên liệu, vận chuyển và các doanh nghiệp tại nước xuất khẩu chỉ cắt, may, hoàn thiện sản phẩm. Điều này dẫn đến giảm tỉ lệ nội địa hóa trong hàng dệt may xuất khẩu, giảm năng lực cạnh tranh và sự ổn định của ngành dệt may. Với yêu cầu quy tắc xuất xứ  “từ sợi trở đi” hoặc “từ vải trở đi” sẽ thúc đẩy các nước tham gia FTAs (ví dụ: VJEPA, CPTPP, EVFTA, RCEP…) đầu tư phát triển sản xuất nguyên liệu dệt may thay thế nhập khẩu, từ đó, tăng tỉ lệ nội địa hóa, nâng cao hiệu quả sản xuất, tạo ra sản phẩm có giá trị gia tăng cao, góp phần gia tăng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may.

 Cải tiến khoa học công nghệ

Tham gia FTAs, các nước sẽ đẩy mạnh triển khai các tiến bộ kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, nâng cao năng lực sản xuất nhằm cung cấp đầy đủ nguồn nguyên liệu để đáp ứng được yêu cầu về xuất xứ. Đồng thời, thông qua các quy định về quy tắc xuất xứ sẽ thúc đẩy các nước xây dựng hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật sản phẩm dệt may phù hợp và hài hòa về tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật và thông lệ quốc tế để tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, đáp ứng được các yêu cầu kỹ thuật, quy tắc xuất xứ qui định trong FTAs. Từ đó, đẩy mạnh chuyển giao công nghệ và nâng cao kỹ thuật công nghệ trong sản xuất hàng dệt may.

 Nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút đầu tư

 Khi hàng dệt may đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ, nâng cao chất lượng sản phẩm, từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh trên ba cấp độ ngành, doanh nghiệp, sản phẩm. Để tận dụng được những ưu đãi, các nước sẽ phải thực hiện đúng và đầy đủ quy định về quy tắc xuất xứ trong các FTA, như vậy quy định về quy tắc xuất xứ góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh. Từ đó, hàng dệt may có đủ sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế, đặc biệt là thị trường các nước nội khối.

 Ngoài ra, việc phát triển sản xuất nguyên phụ liệu hàng dệt may để đáp ứng yêu cầu quy tắc xuất xứ sẽ thu hút các doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đầu tư vào các lĩnh vực phát triển nguồn nguyên liệu từ bông cho đến sợi, dệt và sản xuất vải. Với những ưu thế về vốn, công nghệ, trình độ quản lý, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may theo tiêu chuẩn quy định và thúc đẩy sản xuất và xuất khẩu hàng dệt may.

 Phát triển chuỗi cung ứng cho ngành dệt may

 Để tận dụng tốt các ưu đãi thuế quan, hàng dệt may của các nước tham gia FTA phải đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ là một trong những yêu cầu rất chặt chẽ đối với xuất khẩu hàng dệt may. Điều này sẽ thúc đẩy việc xây dựng và hoàn thiện chuỗi cung ứng hoàn chỉnh từ thiết kế, nguyên phụ liệu, may, phân phối ngay tại các quốc gia xuất khẩu hay giữa các nước thành viên. Các nước tham gia FTA sẽ phải sản xuất nguồn nguyên phụ liệu trong nước, ngành dệt may của các nước sẽ giảm lệ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu. Từ đó tạo cơ hội hoàn thiện và phát triển chuỗi cung ứng cho ngành dệt may tại các nước.

 3.2. Một số thách thức

Sản xuất nguồn nguyên liệu trong nước

 Mục tiêu lớn nhất của các nước khi tham gia FTA là tăng cường lợi thế xuất khẩu dệt may sang các nước cùng tham gia FTA. Để đạt được mục tiêu này, hàng dệt may phải đáp ứng đầy đủ yêu cầu rất cao và phức tạp về quy tắc xuất xứ như quy định sản phẩm xuất khẩu từ một thành viên sang các thành viên khác đều phải có xuất xứ “nội khối”, như vậy những sản phẩm nào sử dụng nguyên liệu, vải  của các nước thứ ba, ngoài thành viên tham gia FTA đều không được hưởng các ưu đãi thuế suất.

 Với quy tắc xuất xứ “từ sợi hay từ vải trở đi” đòi hỏi ngành công nghiệp dệt may tại các nước phải đầu tư ngay vào phát triển ngành sợi, vải, điều này sẽ gặp phải những khó khăn trong giai đoạn ban đầu đối với một số nước mà trước đây phụ thuộc chủ yếu vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu hay nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước chưa đáp ứng được các tiêu chuẩn về chất lượng và kỹ thuật. Tuy nhiên, việc áp dụng một số trường hợp có quy tắc xuất xứ linh hoạt trong một số FTA sẽ làm giảm sức ép đối với ngành dệt may tại một số nước trong một thời gian theo lộ trình.

 Đáp ứng yêu cầu cao về công nghệ

 Đây vừa là thuận lợi, vừa là khó khăn đối với phát triển công nghệ ngành dệt may. Một số nước có ngành công nghiệp dệt chưa thực sự phát triển, năng suất thấp, công nghệ lạc hậu. Để đảm bảo các quy định về quy tắc xuất xứ đối với xuất khẩu hàng dệt may, các nước cần phải đáp ứng các yêu cầu về công nghệ trong sản xuất hàng dệt may. Do vậy, các nước cần đầu tư mạnh vào công nghệ, máy móc thiết bị tiên tiến, hiện đại, đây là một khó khăn đối với các nước khi thực hiện các quy định về quy tắc xuất xứ trong các FTA, nhưng cũng là điều kiện thuận lợi để ngành dệt may của các nước phát triển và nâng cao năng lực cạnh tranh.

Tạo ra sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài (FDI) với doanh nghiệp trong nước

Phát triển nguồn nguyên liệu đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ sẽ thu hút nhiều vốn FDI vào lĩnh vực này, đây cũng là một trong những thách thức lớn đối với ngành dệt may, xu hướng đầu tư vào ngành sợi, dệt rất nhanh và mạnh của các nhà đầu tư nước ngoài với lợi thế cả về tài chính, công nghệ và thị trường. Các doanh nghiệp nước ngoài sẽ dịch chuyển nhà máy từ nhiều quốc gia khác sang nước được đầu tư, gây ra áp lực cạnh tranh với các doanh nghiệp trong nước đó. Khi đó, các sản phẩm sợi, dệt, vải, phụ liệu trong các nước tham gia FTA sẽ bị cạnh tranh khốc liệt với sản phẩm của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đặc biệt là cạnh tranh về giá và chất lượng.

Phát triển nguyên liệu đầu vào sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường

Phát triển nguyên liệu đầu vào đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ trong các FTA sẽ tác động nhất định đến môi trường. Cần phải có các hệ thống xử lý nước thải tại các khu công nghiệp và tại các nhà máy xí nghiệp sản xuất hàng dệt may, nếu không có biện pháp quy hoạch cụ thể, kịp thời thì việc phát triển sản xuất nguyên liệu đầu vào sẽ ảnh hưởng đến môi trường. Bên cạnh đó, các điều khoản về môi trường rất chặt chẽ nhằm thúc đẩy sự tương hỗ lẫn nhau giữa các chính sách về thương mại và môi trường, tăng cường bảo vệ môi trường ở mức độ cao và thực thi hiệu quả luật pháp về môi trường, tạo ra thách thức đối với các nước khi phát triển ngành công nghiệp sản xuất nguyên phụ liệu dệt may. Nhiều lĩnh vực và vấn đề môi trường có liên quan đến thương mại đã được đưa vào thành những nghĩa vụ cam kết mang tính chất ràng buộc và bắt buộc các nước thành viên khi tham gia một số các FTA phải thực thi. Các nước cần khắc phục những bất cập trong việc bảo vệ môi trường khi sản xuất nguồn nguyên liệu dệt may trong nước, đặc biệt là trong công đoạn nhuộm và hoàn tất sản phẩm.

4. Một số giải pháp đáp ứng quy tắc xuất xứ của hàng dệt may xuất khẩu khi tham gia FTAs

4.1. Tăng quy mô xuất khẩu và tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may

Quy mô xuất khẩu thể hiện qua tổng lượng và kim ngạch xuất khẩu, tăng quy mô xuất khẩu có nghĩa là tổng lượng xuất khẩu hay kim ngạch xuất khẩu tăng lên. Tổng lượng xuất khẩu là tổng số lượng hoặc khối lượng hàng hóa được buôn bán qua biên giới được tính theo các đơn vị đo lường quốc tế (như tấn, kilogam, thùng, cái, chiếc…). Kim ngạch xuất khẩu là giá trị các hàng hóa xuất khẩu được tính theo đơn vị tiền tệ, thông thường sử dụng ngoại tệ mạnh hoặc đồng tiền ngoại tệ dễ dàng chuyển đổi được như đô la Mỹ (USD), đồng tiền chung Châu Âu (EUR), yên Nhật (JPY)…, kim ngạch xuất khẩu thường được thống kê theo tháng, quý hay theo năm.

Tăng quy mô xuất khẩu sẽ thúc đẩy phát triển xuất khẩu, từ đó sẽ đáp ứng được những yêu cầu về quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may. Ngược lại, việc đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ khi tham gia FTA sẽ tác động làm tăng quy mô xuất khẩu hàng dệt may.

Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu hàng dệt may là đại lượng đo tốc độ tăng giá trị kim ngạch xuất khẩu theo từng quý hoặc từng năm. Tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may tác động đến phát triển xuất khẩu qua từng thời kỳ nhất định và từ đó thúc đẩy việc đáp ứng quy tắc xuất xứ của hàng dệt may .

Nói cách khác, tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may nhanh hay chậm tác động tới quá trình phát triển ngành dệt may để đáp ứng được các yêu cầu về quy tắc xuất xứ khi tham gia các FTA.

4.2. Cơ cấu mặt hàng và dịch chuyển cơ cấu mặt hàng phù hợp

Để đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ hàng dệt may với yêu cầu tất cả các công đoạn sản xuất hàng dệt may từ sợi trở đi hay từ vải trở đi phải được thực hiện trong các nước thành viên tham gia FTA, khi đó cơ cấu các mặt hàng dệt may xuất khẩu cần có những thay đổi nhất định và sự chuyển dịch cơ cấu mặt hàng theo hướng phù hợp, các mặt hàng dệt xuất khẩu sẽ tăng lên khi trong nước tự sản xuất được nguồn nguyên liệu phục vụ cho xuất khẩu. Bên cạnh đó, để đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ, hàng may mặc xuất khẩu sẽ được sản xuất từ nguồn nguyên liệu trong nước, thay thế nguyên liệu nhập khẩu và chuyển đổi từ phương thức sản xuất gia công sang các phương pháp sản xuất trực tiếp.

 Cần thay đổi cơ cấu về số lượng và chủng loại mặt hàng đã có như tăng cơ cấu xuất khẩu mặt hàng tơ, sợi, bông chưa qua công đoạn xử lý, mặt hàng dệt hay những mặt hàng may mặc đã được hoàn thiện từ nguồn nguyên liệu sản xuất trong nước. Hàng dệt may xuất khẩu có cơ cấu hợp lý về chủng loại mặt hàng sẽ thúc đẩy phát triển xuất khẩu theo hướng tăng tỉ lệ hàng dệt may xuất khẩu theo phương thức sản xuất trực tiếp từ nguồn nguyên liệu trong nước đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ trong các FTA.

Hàng dệt may xuất khẩu của mỗi quốc gia rất đa dạng và phong phú, có thể phân chia theo chủng loại mặt hàng dệt may như quy định mã HS (Hệ thống hài hòa mô tả và mã hóa hàng hóa) hay phân loại theo chức năng của các mặt hàng dệt may. Mỗi loại cơ cấu mặt hàng theo cách phân loại khác nhau chỉ phản ánh một mặt nhất định của cơ cấu hàng xuất khẩu. Cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu của một nước cho thấy mức độ chuyên môn hóa hay lợi thế so sánh của nước đó. Sự chuyển dịch cơ cấu thể hiện qua cơ cấu xuất khẩu theo nhóm hàng, mặt hàng thay đổi dẫn đến sự thay đổi về lợi thế so sánh trong sản xuất và xuất khẩu mặt hàng dệt may, do đó cơ cấu xuất khẩu theo hướng các mặt hàng được sản xuất trực tiếp trong nước sẽ gia tăng lợi thế cạnh tranh cho nước đó. Chuyển dịch cơ cấu hàng dệt may xuất khẩu hợp lý hướng đến việc đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ sẽ giúp sử dụng nguồn lực hợp lý, đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may và nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu dệt may.

4.3. Chỉ số thương mại nội ngành

Việc đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ của hàng dệt may và chỉ số thương mại nội ngành dệt may luôn có mối quan hệ tương hỗ. Khi đáp ứng quy tắc xuất xứ sẽ làm tăng chỉ số thương mại nội ngành hay chỉ số thương mại nội ngành sẽ phản ánh khả năng đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ đối với hàng dệt may.

Chỉ số thương mại nội ngành chỉ hạn chế ở hàng hóa chế biến theo Phân loại thương mại công nghiệp chuẩn (SITC) ở cấp độ 3 số hoặc cũng có thể áp dụng tính toán chỉ số này với HS 2 chữ số đối với những sản phẩm chế biến (Theo số liệu SITC có tại Báo cáo các chỉ số phát triển của thế giới (WDI). Chỉ số thương mại nội ngành dệt may được sử dụng để đo lường tốc độ tăng trưởng thương mại tiềm năng trong ngành dệt may. Chỉ số này dùng để bổ sung cho các chỉ số về lợi thế so sánh dẫn đến thương mại giữa các ngành.

         Phương pháp xác định chỉ số thương mại nội ngành (IIT):

IITjk = 1 -  (Xijk - Mijk)/(Xjk + Mjk)

          Trong đó: Xijk là giá trị xuất khẩu của ngành dệt may (i) từ nước j đến nước k

 Mijk là giá trị nhập khẩu của ngành dệt may (i) tại nước j từ nước k    

Chỉ số IIT thay đổi từ 0 (không có thương mại nội ngành dệt may) tới 1 (tất cả thương mại đều là nội ngành dệt may). Giá trị IIT > 0,5 cho thấy thương mại giữa hai quốc gia chủ yếu do thương mại nội ngành dệt may. IIT< 5 chủ yếu do tác động của thương mại liên ngành. Chỉ số này cho thấy sự tham gia của thương mại nội ngành dệt may vào hoạt động thương mại chung của một quốc gia, đây cũng là một yêu cầu quan trọng phản ánh việc đáp ứng quy tắc xuất xứ hàng dệt may xuất khẩu thông qua sự phát triển xuất khẩu hàng dệt may của quốc gia đó.

Khi tham gia một FTA làm tăng độ mở của nền kinh tế một nước, khả năng hội nhập vào nền kinh tế thế giới càng sâu rộng, các rào cản thương mại được giảm dần. Khi đó kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may giữa các nước sẽ tăng lên, chỉ số IIT phản ảnh việc các nước cùng tham gia Hiệp định thương mại tự do có tác động tích cực đến thương mại nội ngành. Tham gia FTA buộc các nước thành viên phải tuân thủ quy định về quy tắc xuất xứ, do vậy chỉ số thương mại nội ngành tăng lên khi tham gia các FTA cũng phản ánh việc đáp ứng quy tắc xuất xứ hàng dệt may xuất khẩu của mỗi quốc gia tham gia.

4.4. Phát triển nguồn nguyên liệu đầu vào, tăng tỉ lệ nội địa hoá trong xuất khẩu dệt may

Yêu cầu quan trọng để đáp ứng quy tắc xuất xứ trong các FTA là phải phát triển nguồn nguyên liệu đầu vào. Để thực hiện đẩy mạnh sản xuất nguyên phụ liệu trong nước cần có chiến lược dài hạn để tạo sự ổn định cho nguồn nguyên liệu. Nhà nước cần định hướng cho các doanh nghiệp trong nước phối hợp với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài để tận dụng được tối đa nguồn lực trong và ngoài nước. Tập trung phát triển mạnh các sản phẩm công nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, nâng cao giá trị gia tăng của hàng dệt may. Phát triển sản xuất nguyên phụ liệu như dệt - nhuộm - hoàn tất cần xây dựng các nhà máy xử lý nước thải trong các khu công nghiệp.

Ngành dệt may xuất khẩu nếu phụ thuộc quá lớn vào nguồn nguyên, phụ liệu nhập khẩu thì sẽ không đáp ứng được yêu cầu về quy tắc xuất xứ trong các FTA, từ đó cản trở sự phát triển xuất khẩu hàng dệt may. Như vậy để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may, cần phải phát triển nguồn nguyên liệu sợi, vải. Tập trung phát triển sản phẩm ngành sợi, dệt để sản xuất ra vải phục vụ xuất khẩu, phát triển nguồn nguyên liệu xơ bông, các loại cây có sơ, sợi, sợi nhân tạo và phụ liệu.

Phát triển nguồn nguyên liệu đầu vào chính là tăng tỉ lệ nội địa hoá hàng dệt may xuất khẩu, ngoài việc đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ còn là yếu tố giúp tăng năng lực cạnh tranh, nâng cao giá trị gia tăng của hàng dệt may xuất khẩu. Chủ động nguồn nguyên phụ liệu hay đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ trong các FTA là mục tiêu quan trọng để đẩy mạnh xuất khẩu hàng dệt may. Các doanh nghiệp dệt may cũng cần mở rộng đầu tư vào sản xuất nguyên phụ liệu, liên kết giữa các khâu sản xuất sợi, vải, may.

4.5. Phát triển khoa học công nghệ trong ngành dệt may

Phát triển nguồn nguyên liệu đầu vào nhằm đáp ứng quy tắc xuất xứ của hàng dệt may khi tham gia các FTA yêu cầu cần có máy móc công nghệ tiên tiến, hiện đại phục vụ cho sản xuất. Để tạo ra khối lượng lớn nguyên liệu đầu vào như sợi, vải phụ thuộc nhiều vào công nghệ và dây chuyền thiết bị được sử dụng tức là yếu tố khoa học kỹ thuật. Công nghệ, dây chuyền thiết bị phải được hiện đại hoá, có trình độ tự động hoá cao, tính đồng bộ cao, sử dụng ít lao động, tiêu tốn ít nhiên liệu, giảm thiểu lượng chất thải.

Ứng dụng các công nghệ dệt, nhuộm, sản xuất vải tạo ra các sản phẩm có tính khác biệt, có giá trị cao phù hợp với nhu cầu thị trường, thân thiện với môi trường, và tạo ra năng suất lớn trong sản xuất nguyên liệu đầu vào. Nhà nước cần đưa ra các chính sách thu hút đầu tư vào dây chuyền công nghệ thiết bị ngành dệt may, bên cạnh đó các doanh nghiệp tập trung vào quản lý sản xuất, đưa các dây chuyền hiện đại vào sản xuất, ứng dụng các công nghệ cao kịp thời nhằm tiết kiệm được mặt bằng, nguyên liệu, nhân công, tối ưu hoá trong sản xuất nhằm tăng năng suất, ổn định chất lượng.

          TS. Trần Thị Thu Hiền

Phòng Thông tin và XTTM - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC