NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Hiệp định thương mại tự do và những tác động tới kinh tế Việt Nam (phần 7)

02/08/2023

Quan điểm, định hướng và giải pháp của Việt Nam khi thực thi các FTA

1. Bối cảnh quốc tế trong nước

Thế giới đang trải qua những thay đổi to lớn. Ba xu hướng đang tác động mạnh lên nền kinh tế các nước: sự chững lại của quá trình toàn cầu hóa ; bùng nổ các ứng dụng công nghệ và sự xuất hiện ngày càng nhiều các biến cố kiểu “thiên nga đen - black swan - một sự kiện vượt quá những gì thường được dự kiến về một tình huống nào đó và có những hậu quả nghiêm trọng”, gây bất ngờ và xáo trộn mọi dự tính. Hệ thống hay trật tự kinh tế thế giới đang có nhiều thay đổi. Đại dịch Covid-19 và cuộc chiến Nga - Ukaina nổ ra được cho là đang tạo ra nhiều yếu tố mới có thể làm thay đổi trật tự này thêm nữa.

Hậu đại dịch Covid-19 sẽ chứng kiến sự lên ngôi của Chủ nghĩa dân tộc (Nationalism) và ở chiều ngược lại là bước thụt lùi của Quản trị toàn cầu (Global governance). Học giả Mỹ Stephen Walt, nhận định thế giới hậu đại dịch là "một thế giới bớt cởi mở, kém thịnh vượng và ít tự do hơn". Khi vai trò của các quốc gia được đề cao, thì điều này cũng đồng nghĩa với vai trò và ảnh hưởng của các thiết chế đa phương trong quản trị toàn cầu như UN, WTO, WB, IMF, WHO... lại giảm đi một cách tương ứng và ngược lại. Điều đó sẽ tác động sâu sắc đến việc thay đổi nhận thức về "kịch bản toàn cầu hóa mới 2.0", trong đó xuất hiện làn sóng dịch chuyển, sắp xếp lại lớn nhất và với tốc độ nhanh nhất mà thế giới chưa từng chứng kiến về đầu tư, sản xuất, thương mại, cung ứng, hậu cần, dịch vụ...tức những nhân tố cấu thành "nền kinh tế chuỗi" của quá trình toàn cầu hóa 1.0 hiện nay.

Xu hướng chung là không từ bỏ, nhưng "liên kết" "hội nhập" sẽ được các quốc gia tiến hành một cách thận trọng và có kiểm soát chứ không để phát triển tràn lan,vô tổ chức như hiện nay với những hệ quả khôn lường.Khuynh hướng "phi Trung Quốc", tức "thoát", hoặc giảm tối đa sự lệ thuộc vào một thị trường hoặc một đối tác có tính chi phối như Trung Quốc nhiều khả năng sẽ được đẩy mạnh.Xu hướng đa dạng hóa và chuyển dịch đầu tư, sản xuất ra khỏi Trung Quốc cũng đồng nghĩa với việc sẽ hình thành một làn sóng chuyển dịch đầu tư sang các nền kinh tế mới nổi ở Đông Nam Á và một số khu vực khác.

Tăng trưởng kinh tế và thương mại thế giới giai đoạn 2023-2025 được dự báo tiếp tục suy giảm trong ngắn hạn nhưng tốc độ có chậm lại,sau đó hồi phục trong trung hạn đến năm 2027 nhưng tốc độ sẽ rất chậm và quay lại đà tăng trưởng trong dài hạn đến năm 2030. Cạnh tranh chiến lược, tranh giành các nguồn tài nguyên, thị trường, công nghệ, nhân lực chất lượng cao giữa các nước ngày càng quyết liệt.Chiến tranh thương mại giữa các cường quốc lớn như Mỹ và Trung Quốc tiếp tục diễn biến phức tạp.

Sự trỗi dậy của chủ nghĩa bảo hộ thương mại, xu hướng tăng cường áp dụng các rào cản kỹ thuật trong thương mại nhằm bảo hộ mậu dịch và các ngành sản xuất trong nước trong bối cảnh kinh tế thế giới tăng trưởng chậm lại sẽ gia tăng.

Kỷ nguyên số đang thay đổi cấu trúc vận động của thế giới, số phận của các quốc gia, dân tộc và quyền lực của họ. Bối cảnh kỷ nguyên số đang tăng tốc với rất nhiều yêu cầu, khác biệt so với kinh tế “thực” truyền thống, cả về nguồn lực, đặc trưng và cách thức tương tác, vận hành…, đòi hỏi cải cách,đổi mới phải gắn liền với tốc độ, với sự quyết liệt trong thay đổi,từ nhận thức, tư duy tới hành động. Nếu không Việt Nam có thể bỏ lỡ cơ hội phát triển và tụt hậu xa hơn.

Xu hướng tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế và thực thi các FTA thế hệ mới, trong đó tiến trình khu vực hóa ngày càng đóng vai trò quan trọng và sẽ dần thay thế tiến trình toàn cầu hóa.Tăng cường liên kết, hợp tác trong các mạng sản xuất hay các chuỗi giá trị khu vực/toàn cầu chuyển dịch theo hai hướng chính: (i) Dịch chuyển địa điểm của các chuỗi sản xuất và cung ứng toàn cầu sang các nước thành viên đã ký  FTA; (ii) Dịch chuyển lên các nấc thang có giá trị gia tăng cao hơn.Phát triển bền vững trở thành xu thế bao trùm trên thế giới, kinh tế tuần hoàn, tăng trưởng xanh đang là mô hình phát triển được nhiều quốc gia lựa chọn và trở thành xu hướng tất yếu, mục tiêu phát triển của tất cả các quốc gia.

Ngày nay, tự do hóa thương mại không còn mang nghĩa đơn thuần mua bán giữa các nước - nó còn là sự đổi chác mang tính địa chính trị và đôi lúc phục vụ cho mục đích dân túy ở nhiều nước nữa.Cuộc chơi thương mại ngày càng khốc liệt và bất quy tắc. Luận thuyết về xung đột tất yếu giữa thế lực đang thịnh trị và thế lực mới nổi lên do nhà sử học cổ đại Hy Lạp Thucydides đưa ra từ thế kỷ thứ V trước công nguyên đã được lịch sử chứng minh là đúng trong suốt gần 2.500 năm qua. Sự xung đột Mỹ - Trung ở thế kỷ 21 này chắc sẽ không kém phần khốc liệt do quy mô và tác động của hai quốc gia lên toàn cầu đều rất lớn.

Không phải nghiễm nhiên các lợi thế sẽ từ trên giấy trở thành hiện thực, thành công ăn việc làm, thành thu nhập. Các FTAs từng hứa hẹn mang lại nhiều cơ hội, nhưng phần lợi ích thực sự đạt được của chúng ta còn khiêm tốn. Riêng các lợi ích từ ưu đãi thuế quan, trung bình chúng ta mới chỉ tận dụng được chưa đầy 40% và chủ yếu thuộc về các DN FDI. Hơn 60% còn lại, vì nhiều lí do khác nhau, đã tuột khỏi tay DN Việt. Nếu vẫn đi theo sản phẩm cũ, thói quen sản xuất cũ thì sẽ không tiến đến đâu cả, cho dù chúng ta ký kết nhiều FTA.

Bên cạnh những kết quả đạt được, quá trình chuyển đổi nền kinh tế ở Việt Nam vẫn còn nhiều hạn chế, thể hiện trên các khía cạnh sau:

- Sự phối hợp, tương tác giữa Nhà nước, thị trường và xã hội còn bất cập, đặc biệt giữa Nhà nước và thị trường.

- Thách thức trong quá trình tiếp tục hoàn thiện nền kinh tế thị trường ở Việt Nam còn khá lớn, đặc biệt trong xác định nội hàm nền kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện, bối cảnh mới.

- Quá trình hội nhập kinh tế thông qua các FTA vẫn chưa thực sự “khắc họa” được những tác động tích cực.Việt Nam mới đơn thuần tận dụng được lợi ích tĩnh mang tính ngắn hạn, chưa tận dụng được các lợi ích động mang tính dài hạn, tạo động lực cho đổi mới và sáng tạo, phát huy tối đa nội lực nhằm “bước lên” các “thang bậc” có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu. Lợi ích quốc gia thu được từ tiến trình hội nhập chưa tương xứng với tiềm năng,vị thế địa kinh tế, chính trị của đất nước...

Việt Nam đang đứng trước ngã rẽ: hoặc tiếp tục xuất khẩu tập trung vào gia công, lắp ráp, giá trị gia tăng thấp; hoặc đa dạng hoá và vươn lên trong chuỗi giá trị toàn cầu để tham gia vào công đoạn đem lại giá trị gia tăng hơn trong bối cảnh vẫn phải là mở cửa thị trường, nâng cao chất lượng sản phẩm hàng hóa, tổ chức chuỗi cung ứng với sự tham gia của các DN Việt Nam và các đối tác .

Dù muốn dù không chúng ta cũng phải chuẩn bị cho một giai đoạn mà trong đó vai trò sản xuất hàng gia công cho các nước khác không còn là xu thế chủ đạo nữa. Chúng ta cũng phải chuẩn bị cho một giai đoạn mà hàng rào thuế quan và kỹ thuật được dựng lên khắp nơi trên thế giới.Những diễn biến hiện nay cho thấy thị trường thế giới ngày càng trở nên bất định, khó lường…

2. Dự báo triển vọng phát triển xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam

Dựa trên Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2021-2030, báo cáo Tổng kết, đánh giá tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2011-2022,bối cảnh quốc tế, khu vực và trong nước cũng như tổng hợp dự báo về các chỉ tiêu tăng trưởng kinh tế, thương mại của các tổ chức trong nước và quốc tế  (Trung tâm phân tích và Dự báo quốc gia,World Bank và IMF), có thể dự báo một số chỉ tiêu chính về kinh tế, thương mại Việt Nam trong những năm tới theo 3 kịch bản sau:

- Phương án 1 (cao): Phát triển kinh tế, thương mại Việt Nam trong điều kiện thực hiện cải cách có tính đột phá, bao gồm cải cách thể chế, cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp nhà nước, tạo tác động lan tỏa tích cực đối với doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp tư nhân, phát triển khoa học - công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao.

- Phương án 2 (trung bình): Phát triển kinh tế, thương mại Việt Nam trong tình trạng còn dở dang của công cuộc kiến tạo một hệ thống thể chế mới, môi trường kinh doanh dần hoàn thiện và cơ cấu kinh tế,mô hình tăng trưởng chuyển đổi chậm.

- Phương án 3 (thấp): Phát triển kinh tế, thương mại Việt Nam trong điều kiện thực hiện cải cách chậm chạp, năng lực của đất nước và doanh nghiệp còn nhiều hạn chế, trong bối cảnh nền kinh tế có độ mở lớn và dễ bị tổn thương trước các cú sốc và biến động kinh tế từ bên ngoài.

Bảng 1: Dự báo tăng trưởng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa thời kỳ 2021-2030

Chỉ số

Đơn vị

2021-2025

2026-2030

2021-2030

PA1

PA2

PA3

PA1

PA2

PA3

PA1

PA2

PA3

Kim ngạch xuất khẩu

%

9,50

9,00

8,00

6,50

6,00

5,00

7,50

7,00

6,00

Kim ngạch nhập khẩu

%

8,50

8,00

7,00

5,50

5,00

4,00

6,50

6,00

5,00

Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu

%

9,00

8,50

7,50

6,00

5,50

4,50

7,00

6,50

5,50

             Nguồn: Số liệu của Tổng cục Hải quan và tính toán của tác giả

 

Bảng 2. Dự báo cơ cấu thị trường xuất khẩu hàng hóa Việt Nam

thời kỳ 2021-2030

                                                                                            Đơn vị :(%)

Năm

2021

2024

2025

BQ 2021-2025

2026

2027

2028

2029

2030

BQ

2026-2030

Tổng

100

100

100

100

100

100

100

100

100

100

Châu Á

49,7

49,8

49,7

49,7

49,7

49,6

49,6

49,5

49,4

49,6

ASEAN

8,5

8,8

8,9

8,7

9,3

9,5

9,8

10

10,3

9,78

Đông Á

31

31,2

31,3

31,2

31,3

31,3

31,4

31,5

31,5

31,4

Trung Quốc

17,4

17,5

17,5

17,5

17,7

17,8

17,8

17,9

18

17,84

Nhật Bản

7

7,6

8,5

7,7

8,7

8,5

8,8

8

8,1

8,42

Hàn Quốc

7

7,3

7,5

7,3

7,4

7,2

7,7

7,1

7

7,28

Châu Âu

17,2

17,4

17,5

17,4

17,5

17,6

17,6

17,7

17,9

17,66

EU 27

12,6

13,2

13,9

13,0

14,5

15,3

15,9

16,5

17

15,84

Châu Mỹ

29

29,1

29,1

29,0

29,1

29,2

29,2

29,4

29,4

29,26

Hoa Kỳ

27,3

28,5

28,7

28,1

28,8

29

28,9

29,2

29,5

29,08

Châu Phi

0,9

1,0

1,0

1,0

1,1

1,1

1,1

1,2

1,2

1,14

Châu Đại Dương

1,5

1,6

1,6

1,5

1,6

1,7

1,7

1,7

1,8

1,7

Thị trường chưa phân tổ

1,7

1,1

1,1

1,4

1,0

0,8

0,8

0,5

0,3

0,68

Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ số liệu của Bộ Công Thương

Bảng 3. Dự báo chuyển dịch cơ cấu thị trường nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam thời kỳ 2021-2030

                                                                                                   Đơn vị : (%)

Năm

2021

2024

2025

BQ 2021-2025

2026

2027

2028

2029

2030

BQ

2026-2030

Tổng

100

100

100

100

100

100

100

100

100

100

Châu Á

79,9

79,8

79,7

79,8

79,7

79,6

79,6

79,6

79,5

79,6

ASEAN

11,4

11,2

11,2

11,3

11,1

11,1

11,0

11,0

10,9

11,0

Đông Á

55,5

56,0

56,7

56,4

55,4

56,1

57,3

55,9

56,6

56,3

Trung Quốc

28,4

29,6

31,9

28,9

28,3

27,2

27,4

29,5

31,8

28,8

Nhật Bản

7,9

8,1

8,3

8,1

8,2

8,3

8,3

8,4

8,3

8,3

Hàn Quốc

17,7

18,3

18,4

18,1

18,5

18,7

19,0

19,0

19,1

18,9

Châu Âu

7,2

7,5

7,6

7,4

7,6

7,7

7,7

7,8

7,9

7,7

EU 27

5,7

6,2

6,2

6,0

6,4

6,5

6,5

6,7

6,8

6,6

Châu Mỹ

8,4

8,8

8,6

8,7

8,8

8,9

8,9

9,0

9,0

8,9

Hoa Kỳ

5,4

5,9

5,9

5,7

6,0

6,1

6,2

6,4

6,4

6,2

Châu Phi

1,0

1,0

0,9

1,0

1,0

1,0

0,9

1,0

1,1

1,0

Châu Đại Dương

2,1

2,2

2,3

2,2

2,3

2,3

2,4

2,4

2,4

2,4

Thị trường chưa phân tổ

1,4

0,7

0,9

1,0

0,6

0,5

0,5

0,2

0,1

0,4

Nguồn: Tổng hợp và tính toán từ số liệu của Bộ Công Thương

Dưới tác động của các FTA, sự cạnh tranh cũng như phân bổ nguồn lực giữa các ngành trong nền kinh tế có thể dẫn đến những tác động bổ trợ hoặc lấn át nhau. Do các ngành thâm dụng lao động (5 ngành chế biến thực phẩm, thủy sản, nông nghiệp, dệt may và thuộc da, sản phẩm đồ gỗ là những ngành có thâm dụng lao động cao trong cả ngắn hạn và dài hạn) sử dụng phần lớn lực lượng lao động phổ thông có thể bị lấn át bởi các ngành có khả năng thu hút lượng vốn lớn của nền kinh tế (công nghệ thông tin;công nghiệp điện tử; chế biến thực phẩm; thủy sản; nông nghiệp; dệt may và thuộc da; sản phẩm đồ gỗ; giáo dục - đào tạo; khoa học - công nghệ; du lịch; dịch vụ viễn thông - những ngành có khả năng lan tỏa cao và thỏa mãn các điều kiện của ngành có lợi thế trong tương lai) nên có thể gặp bất lợi khi Việt Nam mở cửa hàng rào thương mại với các nước đối tác.

Do tác động tổng hợp của các hiệp định, các ngành đang có lợi thế vẫn tiếp tục nhận được các tác động tích cực trong thời gian tới là công nghiệp điện tử (Máy vi tính, sản phẩm điện tửđiện thoại và các loại linh kiện); trong lĩnh vực dệt may và giày da (Hàng dệt may và thuộc da); trong lĩnh vực chế biến thực phẩm (Thực phẩm chế biến). Đây là các nhóm ngành được dự báo sẽ có mức tăng kim ngạch xuất khẩu và giá trị sản xuất lớn nhất. Ngành hàng nông nghiệp sẽ có mức sụt giảm về giá trị sản xuất là lớn nhất, kế đó là ngành gỗ, sản phẩm gỗ và hàng hóa khác.Giá trị sản xuất của các ngành còn lại sẽ có sự thay đổi không đáng kể.

Trong dài hạn, quy mô tăng trưởng nhập khẩu ngành điện thoại và các loại linh kiện có mức tăng lớn nhất và vượt rất xa so với các ngành hàng còn lại. Về tốc độ tăng trưởng, ngành thuộc da tốc độ tăng trưởng nhập khẩu lớn nhất, tiếp đến là sản phẩm các ngành máy vi tính, sản phẩm điện tử và hàng dệt may.

Kết quả từ mô hình SMART đánh giá tác động của cam kết cắt giảm thuế quan trong các FTA thế hệ mới đến quy mô và tốc độ tăng trưởng kim ngạch thương mại giữa Việt Nam và các nước đối tác FTA của Viện Nghiên cứu Chiến lược và Chính sách Công Thương lựa chọn cho thấy:

- Xuất khẩu của Việt Nam sang các nước đối tác sẽ tăng chủ yếu trong giai đoạn 2019 - 2026, khi các nước đối tác đồng loạt giảm thuế cho Việt Nam. Giai đoạn sau, 2027-2029, chỉ có các nước CPTPP và UKVFTA tiếp tục giảm thuế cho Việt Nam. Do đó, XK của Việt Nam tăng không đáng kể. Như vậy, Việt Nam cần tận dụng nhanh chóng các ưu đãi về thuế trong giai đoạn từ nay đến năm 2026 để đẩy mạnh XK sang thị trường các nước đối tác.

- Trong tổng kim ngạch XK tăng lên của Việt Nam sang các nước đối tác FTA, tác động tạo lập thương mại sẽ chiếm tỷ trọng cao,điều đó cho thấy gia tăng XK của Việt Nam sang thị trường các nước đối tác FTA chủ yếu là do hàng hoá của Việt Nam tăng sức cạnh tranh về giá so với trước khi thực hiện FTA.Tác động chệch hướng chiếm tỷ trọng nhỏ hơn nhỏ hơn tác động tạo lập thương mại, hàm ý rằng việc thực hiện FTA với Việt Nam sẽ có khả năng làm gia tăng phúc lợi xã hội cho các nước đối tác FTA.

Bảng 4. Các nước giảm xuất khẩu sang các nước đối tác FTA của Việt Nam nhiều nhất

Thị trường

Các nước bị giảm XK nhiều nhất

Kim ngạch XK giảm đi (1.000 USD)

Thị trường

Các nước bị giảm XK nhiều nhất

Kim ngạch XK giảm đi (1.000 USD)

 

 

 

 

 

EU

Trung Quốc

474.460

 

 

 

 

 

CPTPP

Mỹ

1.688.695

Indonesia

57.114

Trung Quốc

949.805

Bangladesh

56.784

Đức

407.751

Ấn Độ

43.236

Hàn Quốc

327.746

Thổ Nhĩ Kỳ

43.110

Thái Lan

279.028

Campuchia

27.482

Ấn Độ

154.512

Morocco

19.515

Indonesia

147.615

Tunisia

13.745

Brazil

97.149

Thái Lan

12.547

Itali

90.014

Pakistan

9.642

Tây Ban Nha

81.173

            Nguồn: Từ kết quả mô phỏng SMART

Khi Việt Nam thực hiện FTA với các nước đối tác, Việt Nam sẽ gia tăng thị phần trên thị trường các nước đối tác do những lợi thế có được từ các cam kết trong FTA. Các nước sẽ mất thị phần cho Việt Nam nhiều nhất theo thị trường được thể hiện ở Bảng trên.

Trung Quốc là nước phải nhường thị trường cho Việt Nam nhiều nhất tại thị trường EU. Trong khi đó, Mỹ phải nhường thị phần cho Việt Nam nhiều nhất tại thị trường CPTPP và Trung Quốc đứng ở vị trí thứ hai. Điều đó một phần giải thích tại sao Trung Quốc đều đang “cân nhắc, tính toán” phương án gia nhập CPTPP trong tương lai. Trong ASEAN, Indonesia và Thái Lan do chưa có FTA với EU và chưa tham gia CPTPP nên cũng bị mất lợi thế trước Việt Nam trên những thị trường này và phải nhường một phần thị trường cho Việt Nam.Việt Nam cũng giành thị phần từ một số quốc gia châu Âu như Đức, Italia, Tây Ban Nha trên thị trường CPTPP. Như vậy, có thể thấy việc ký kết và thực hiện các FTA đem lại những lợi thế nhất định về giá xuất khẩu cho Việt Nam so với các quốc gia khác.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng những lợi thế cạnh tranh về giá nếu chỉ dựa vào FTA có thể sẽ không dài hạn và phụ thuộc nhiều vào tiến trình hội nhập của các nước trên thế giới. Hiện nay, trước những thất bại của các đàm phán đa phương và sự giảm sút của WTO, các quốc gia và khu vực trên thế giới đang có xu hướng tiếp tục đẩy mạnh các đàm phán song phương. EU hiện nay cũng đang rất nỗ lực để đẩy mạnh quá trình tự do hoá và hội nhập. Ecuador đã kết thúc đàm phán với EU và đang trong quá trình phê chuẩn hiệp định; Indonesia,Thái Lan, Ấn Độ đang đàm phán với EU. Trong tương lai gần, khi Indoneasia, Thái Lan, Ấn Độ đạt được thoả thuận FTA với EU và hiệp định với Ecuador có hiệu lực, lợi thế cạnh tranh về giá của Việt Nam so với các nước này sẽ giảm và do đó gia tăng XK của Việt Nam sang thị trường EU sẽ bị tác động không nhỏ. Nhật Bản và EU cũng đã ký kết FTA vào ngày 17/7/2018. Dự báo cho thấy sự gia tăng XK mạnh Việt Nam sang EU nói riêng và các nước đối tác FTA khác nói chung có thể chỉ là ngắn hạn.Trong bối cảnh khó lường của các cuộc chiến tranh thương mại và sự giảm sút vai trò của WTO hiện nay, Việt Nam cần chuẩn bị để tận dụng tối đa các FTA đã ký kết./.

Lương Thanh Hải

Phòng Thông tin và xúc tiến thương mại - VIOIT

TS. Nguyễn Thanh Bình 

Học viện Ngân hàng

BÀI VIẾT KHÁC