NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Động lực tăng trưởng cho GDP Việt Nam năm 2024

29/12/2023

Báo cáo Triển vọng phát triển châu Á tháng 12/2023 của Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) dự báo, tăng trưởng kinh tế năm 2023 của Indonesia, Philippines, Singapore tăng lần lượt 5,0%, 5,7%, và 1,0%, Malaysia tăng 4,2%, Thái Lan tăng 2,5%, thì tốc độ tăng trưởng 5,05% của Việt Nam thuộc dạng cao nhất nhì khu vực. Kinh tế Việt Nam đã trải qua năm 2023 đầy khó khăn, thách thức và kết quả tăng trưởng 5,05% là một nỗ lực rất lớn, đáng được ghi nhận nếu so sánh với các nước trong khu vực và trên thế giới.

Đóng góp vào tốc độ tăng chung, trước hết, ngành nông, lâm nghiệp và thủy sản tiếp tục là “bệ đỡ” của nền kinh tế. Ngành này đang tích cực đẩy mạnh quá trình tái cơ cấu, vừa đảm bảo nguồn cung và an ninh lương thực, vừa gặt hái được nhiều kết quả tích cực, tạo nên tăng trưởng ổn định trong thời gian qua.

Trong khi đó, ngành công nghiệp có xu hướng phục hồi tích cực trong những tháng cuối năm, đặc biệt, ngành công nghiệp chế biến - chế tạo tăng 7,97% trong quý IV/2023. Ngành xây dựng có tốc độ tăng trưởng vượt bậc do thúc đẩy giải ngân vốn đầu tư công, giá một số nguyên vật liệu chủ yếu phục vụ cho xây dựng (sắt, thép, xi măng…) hạ nhiệt sau thời gian dài tăng giá, lãi suất thấp và hoạt động thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài là điểm sáng.

Một số ngành dịch vụ thị trường trong quý IV/2023 tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng ổn định kể từ đầu năm, như bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 9,88%; vận tải kho bãi tăng 9,97%; dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng 8,85%.

Tính chung cả năm 2023, các ngành này tăng trưởng khá tốt, là điểm sáng của khu vực dịch vụ, đặc biệt là vận tải kho bãi (tăng trên 9,18%), dịch vụ lưu trú và ăn uống (tăng 12,24%).

Dẫn dắt nền kinh tế trong năm 2023 không phải là các động lực tăng trưởng truyền thống như công nghiệp chế biến, chế tạo; xuất nhập khẩu; khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài, mà đến từ khu vực dịch vụ, đầu tư công, du lịch nội địa, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản.

Một số động lực mới thúc đẩy tăng trưởng kinh tế chưa rõ rệt và hiệu quả, như khoa học - công nghệ và đổi mới sáng tạo chưa phát huy tác dụng nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội, thúc đẩy cơ cấu lại nền kinh tế và tăng năng suất lao động xã hội; việc tham gia các hiệp định thương mại chưa thực sự hiệu quả do còn nhiều thách thức về thuế quan, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước; năng lực của khu vực kinh tế tư nhân chưa đủ mạnh để trở thành động lực mới như kỳ vọng. Đây là những điểm đáng lưu ý của nền kinh tế trong năm 2024, nếu muốn có sự phát triển đồng đều và ổn định hơn.

1. Mục tiêu cho năm 2024

Năm 2024 thế giới và cả Việt Nam dự kiến còn đối mặt rất nhiều rủi ro, thách thức, lạm phát toàn cầu tiếp tục giảm; rủi ro tài chính, tiền tệ và nợ trên thế giới còn cao; rủi ro an ninh năng lượng, an ninh lương thực, rủi ro chuỗi cung ứng còn hiện hữu… Những yếu tố này đều có tác động tiêu cực đến Việt Nam. Tuy nhiên, với đà phục hồi thời gian qua và nỗ lực, quyết tâm cao hơn, khả năng Việt Nam có thể tăng trưởng 6-6,5% và lạm phát tăng 3,5-4% năm 2024 là khả thi dù mức tăng trưởng khu vực châu Á Thái Bình Dương dự báo ở mức thấp hơn (4,5%) do Trung Quốc tăng trưởng chậm lại.

Đối mặt với những khó khăn, thách thức từ tình hình thế giới, cùng với những trở ngại của yếu tố nội tại, khi Việt Nam là nước đang phát triển, nền kinh tế trong quá trình chuyển đổi và hội nhập, quy mô kinh tế ở mức khiêm tốn, độ mở của nền kinh tế lớn, năng lực cạnh tranh và sức chống chịu trước các cú sốc từ bên ngoài còn hạn chế, nhưng Việt Nam vẫn đạt kết quả đáng khích lệ với mức tăng trưởng 5,05% trong năm 2023. Đặc biệt, tăng trưởng GDP đã đi vào “quỹ đạo” vốn có là quý sau tăng trưởng cao hơn quý trước (quý I tăng 3,41%, quý II tăng 4,25%, quý III tăng 5,47% và quý IV ước tăng 6,72%).

Kỳ vọng vào động lực tăng trưởng cho năm 2024, các đối tác thương mại lớn của Việt Nam đang tạo điều kiện khá thuận lợi cho cả xuất và nhập khẩu. Đặc biệt, việc mở của trở lại của Trung Quốc (thị trường xuất khẩu duy nhất mà Việt Nam có tăng trưởng dương (+6%)) là đối tác thương mại lớn nhất chiếm khoảng 25% kim ngạch xuất, nhập khẩu của Việt Nam.

Theo Nghị quyết về Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội năm 2024 đã được thông qua, mục tiêu tăng trưởng GDP của năm 2024 được xác định là từ 6 - 6,5%, một mục tiêu đòi hỏi sự nỗ lực, quyết tâm cao.

Theo đó, Quốc hội đã quyết nghị 15 chỉ tiêu kinh tế - xã hội (KTXH) chủ yếu của năm 2024. Cụ thể như:

  • Tốc độ tăng GDP từ 6 - 6,5%; GDP bình quân đầu người đạt khoảng 4.700 - 4.730 USD; tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 24,1% - 24,2%;
  • Tốc độ tăng CPI bình quân 4 - 4,5%; tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân 4,8% - 5,3%; tỷ trọng lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội đạt 26,5%; tỷ lệ lao động qua đào tạo khoảng 69%; tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị dưới 4%...
  • Cùng với đó, tỷ lệ hộ nghèo giảm trên 1%; số bác sĩ trên 10.000 dân đạt khoảng 13,5 bác sĩ; số giường bệnh/10.000 dân đạt khoảng 32,5 giường bệnh; tỷ lệ tham gia bảo hiểm y tế đạt 94,1% dân số; tỷ lệ số xã đạt chuẩn nông thôn mới đạt 80%; tỷ lệ thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt đô thị bảo đảm tiêu chuẩn, quy chuẩn đạt 95%; tỷ lệ khu công nghiệp, khu chế xuất đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đạt 92%.

Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội (UBTVQH), chỉ tiêu tăng trưởng GDP đã được xây dựng trên cơ sở phân tích, dự báo bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế, có tính đến những yếu tố thuận lợi, khó khăn của năm 2024, bám sát định hướng, mục tiêu, nhiệm vụ của Kế hoạch phát triển KTXH 5 năm. Việc đặt chỉ tiêu ở mức cao thể hiện quyết tâm của Chính phủ, phấn đấu đạt được mục tiêu đề ra, đồng thời để bảo đảm hài hòa, linh hoạt trong thực hiện các mục tiêu.

Bên cạnh đó, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP và tốc độ tăng năng suất lao động xã hội năm 2024 có thể thấp hơn năm 2023 do vẫn còn nhiều khó khăn do thị trường thế giới chưa phục hồi hoàn toàn, thiếu đơn hàng sản xuất dẫn tới tình trạng ngừng sản xuất và thu hẹp quy mô.

Về lao động, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế tiếp tục diễn ra sẽ kéo theo sự chuyển dịch lao động giữa các ngành kinh tế nhưng với tốc độ chậm do một bộ phận lao động phải chuyển sang những công việc, lĩnh vực chuyên môn mới, cần thời gian học tập, nghiên cứu, thích nghi. Dự kiến mục tiêu tốc độ tăng năng suất lao động bình quân năm 2024 khoảng 4,8% - 5,3%, tỷ trọng công nghiệp chế biến, chế tạo trong GDP đạt khoảng 24,1% - 24,2%, các chỉ tiêu khác của năm 2024 được tính toán trên cơ sở bối cảnh trong nước, quốc tế, cơ sở kết quả thực hiện của năm 2023 và các nguồn lực hiện có để triển khai trong năm 2024.

2. Yếu tố tác động tới động lực tăng trưởng GDP năm 2024

Với những khó khăn như vậy, để đạt mục tiêu, kế hoạch đã đề ra và chỉ tiêu Quốc hội giao, chúng ta phải nỗ lực, cố gắng rất lớn. Một số yếu tố có tác động tích cực tới động lực tăng trưởng như: Chính sách kinh tế; Tình hình thị trường quốc tế và các yếu tố nội địa trong nước. Đây có thể được coi là các yếu tố quyết định để có thể triển khai các giải pháp khác nhằm phục hồi cũng như thúc đẩy tăng trưởng của nền kinh tế trong năm 2024.

2.1. Chính sách kinh tế

Chính sách kinh tế của chính phủ có thể tác động đến động lực tăng trưởng của GDP. Với việc Chính phủ thúc đẩy đầu tư công, hỗ trợ doanh nghiệp, giảm thuế, tăng chi tiêu tiêu dùng, sẽ tạo ra động lực rất lớn cho tăng trưởng GDP.

Ưu tiên hơn cho mục tiêu tăng trưởng

Sau khi tổ chức hội nghị với các địa phương, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 01/NQ-CP về nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu thực hiện Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội và dự toán ngân sách nhà nước năm 2024. Sáu quan điểm, mục tiêu điều hành và 12 nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu đã được nhấn mạnh tại nghị quyết này.

Và một điểm mới quan trọng, xác định năm 2024 là năm tăng tốc, bứt phá, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong việc thực hiện thắng lợi Kế hoạch Phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2021-2025, Chính phủ đã đặt thúc đẩy tăng trưởng kinh tế trở thành mục tiêu ưu tiên hàng đầu.

Trong bối cảnh 3 năm đầu của Kế hoạch 5 năm 2021-2025, ngoại trừ năm 2022, tăng trưởng GDP đạt mức đột phá 8,02%, thì năm 2021 và 2023, tăng trưởng GDP chỉ ở mức thấp, tương ứng là 2,56% và 5,05%. Trong khi đó, mục tiêu tăng trưởng GDP của giai đoạn 2021-2025 được quyết nghị ở mức 6,5-7%.

Ổn định kinh tế vĩ mô là nền tảng, còn thúc đẩy tăng trưởng là ưu tiên hàng đầu. Theo Nghị quyết 01/NQ-CP, trong quý I/2024, tăng trưởng GDP phải đạt 5,26 - 5,69%. Quý II, con số là 5,8 - 6,29%, để 6 tháng, có thể đạt được tăng trưởng 5,54 - 6%. Sang quý III, tăng trưởng GDP phải đạt mức cao hơn, là 6,24 - 6,77%; để 9 tháng, đạt 5,78 - 6,27%. Quý IV/2024 sẽ là quý đóng vai trò quyết định tới tốc độ tăng trưởng kinh tế, do đó, con số phải đạt được là 6,55 - 7,09%.

Báo cáo trước Quốc hội về tình hình kinh tế giữa kỳ, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng nhận định, áp lực đạt mục tiêu của Kế hoạch 5 năm là rất nặng nề. Còn Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, khi thẩm tra báo cáo của Chính phủ, nhấn mạnh, để đạt được mục tiêu tăng trưởng bình quân khoảng 6,5-7%, cao hơn mức bình quân của 5 năm 2016-2020 (6,25%) theo Nghị quyết của Quốc hội, thì “cần phải có sự cố gắng rất lớn”.

Và đó cũng là lý do Chính phủ quyết ưu tiên hơn cho mục tiêu tăng trưởng, bên cạnh việc tiếp tục nhất quán quan điểm ổn định kinh tế vĩ mô, đảm bảo các cân đối lớn của nền kinh tế.

Giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô là nền tảng quan trọng để đảm bảo nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững, khi các dự báo cho thấy, có một số yếu tố có thể tác động mạnh đến mục tiêu kiểm soát lạm phát, như chính sách tiền lương mới, hay việc điều chỉnh giá dịch vụ y tế, giáo dục, giá điện... theo lộ trình, trong khi giá xăng dầu vẫn diễn biến khó lường.

2.2. Tình hình thị trường quốc tế

Tình hình thị trường quốc tế có thể ảnh hưởng đến động lực tăng trưởng GDP của Việt Nam trong năm 2024. Sự suy giảm trong năm 2023 không chỉ phản ánh xu hướng nhu cầu toàn cầu mà còn phản ánh sự thay đổi cơ cấu thương mại đối với các dịch vụ trong nước; tác động trễ của việc tăng giá đồng đô la làm chậm tăng trưởng thương mại do thanh toán chủ yếu được thực hiện bằng đô la Mỹ và từ các rào cản thương mại ngày càng gia tăng (năm 2022, các quốc gia đã áp đặt gần 3.000 hạn chế mới đối với thương mại, tăng gần 2000 hạn chế so với năm 2019).

Một số nhân tố rủi ro chính làm giảm triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu đươc nhận định, gồm:

  • Thứ nhất, tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc tiếp tục chậm lại. Những diễn biến gần đây cho thấy tăng trưởng của Trung Quốc dự báo thấp hơn kỳ vọng, tác động tiêu cực lên các đối tác thương mại của nước này.
  • Thứ hai, giá hàng hóa ngày càng biến động do các cú sốc về khí hậu và địa chính trị. Biến đổi khí hậu có thể dẫn tới tình trạng mất mùa thường xuyên hơn ở các quốc gia, khiến giá lương thực tăng cao. Cuộc xung đột ở U-crai-na và căng thẳng địa chính trị ở những nơi khác có thể gia tăng, gây ra gián đoạn chuỗi cung ứng và những biến động mới về lương thực, nhiên liệu, phân bón và giá cả hàng hóa khác.
  • Thứ ba, áp lực lạm phát vẫn tiềm ẩn. Trong khi lạm phát chung bắt đầu giảm ở hầu hết các quốc gia, chủ yếu do giá năng lượng giảm, lạm phát cơ bản vẫn cao hơn mức mục tiêu của các ngân hàng trung ương. Gián đoạn nguồn cung dầu do những xáo trộn địa chính trị có thể có tác động lâu dài đến thị trường toàn cầu. Giá năng lượng cao hơn làm tăng nguy cơ mất kiểm soát lạm phát.

Theo OECD cho rằng tăng trưởng thương mại năm 2024 vẫn còn yếu và độ mở thương mại giảm. Dữ liệu trong Quý III/2023 cho thấy sự phục hồi trong tăng trưởng thương mại ở Hoa Kỳ, Nhật Bản và Hàn Quốc, đi kèm với tốc độ tăng trưởng thương mại chậm hơn nhưng vẫn tích cực của Trung Quốc.

Tuy nhiên, trong báo cáo Thước đo thương mại hàng hóa công bố ngày 27/11/2023, Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) nhận định khối lượng thương mại hàng hóa toàn cầu sẽ dần phục hồi với động lực đến từ doanh số bán và sản xuất ô tô cũng như thương mại linh kiện điện tử. Nhu cầu toàn cầu về xe điện tăng cao là nguyên nhân dẫn đến tăng các chỉ số sản phẩm ô tô và linh kiện điện tử, trong khi đó thị trường bất động sản suy yếu khi lãi suất vẫn ở mức cao đã khiến chỉ số thương mại của nguyên liệu thô giảm.

Xuất khẩu vẫn sẽ là động lực tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2024, dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng nhờ vào nhu cầu tăng cao từ các thị trường lớn như: Mỹ, EU, Trung Quốc và Nhật Bản. Tổng thể, nhu cầu từ các thị trường lớn của Việt Nam dự kiến sẽ tăng trưởng khoảng 5,5% trong năm 2024, sẽ tạo động lực quan trọng cho tăng trưởng xuất khẩu của Việt Nam nói chung và góp phần tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong năm 2024.

2.3. Các yếu tố nội tại khác

Các yếu tố nội tại khác như tình hình môi trường kinh doanh, đầu tư, lao động, cơ sở hạ tầng và tiêu dùng... cũng tác động lực tích cực lên tăng trưởng của GDP.

- Về đầu tư, đầu tư trong nước và nước ngoài dự kiến cũng sẽ tăng trưởng trong năm 2024, nhờ vào các chính sách hỗ trợ của Chính phủ và môi trường kinh doanh thuận lợi. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế và các chuyên gia trong nước, đầu tư nước ngoài (FDI) vào Việt Nam dự kiến sẽ tăng trưởng trong năm 2024, với mức tăng trưởng dự kiến từ 10-15%. Ngân hàng Thế giới (WB) dự báo FDI vào Việt Nam trong năm 2024 sẽ đạt 29,2 tỷ USD.

FDI vào Việt Nam trong năm 2024 dự kiến sẽ tập trung vào các lĩnh vực như: Công nghiệp chế biến, chế tạo; tăng trưởng xanh; công nghệ cao. Ngoài ra, FDI vào các lĩnh vực như: Nông nghiệp, du lịch, dịch vụ... dự kiến cũng sẽ tiếp tục tăng trưởng trong năm 2024.

Theo dự báo của ADB, đầu tư trong nước của Việt Nam dự kiến sẽ tăng trưởng 9% trong năm 2024. Trong đó, đầu tư tư nhân sẽ tăng trưởng 8% và đầu tư công sẽ tăng trưởng 10%. Đầu tư tư nhân được kỳ vọng sẽ tăng trưởng trong năm 2024, nhờ nhu cầu phục hồi của các doanh nghiệp và sự thúc đẩy của các chính sách hỗ trợ của Chính phủ. Đầu tư công được kỳ vọng sẽ tăng trưởng trong năm 2024, nhằm thúc đẩy kết nối kinh tế, giao thương và thu hút đầu tư nước ngoài.

Một số dự án đầu tư công lớn dự kiến sẽ được triển khai trong năm 2024 bao gồm: Dự án đường cao tốc Bắc - Nam phía Đông giai đoạn 2, Dự án đường sắt tốc độ cao Bắc – Nam, Dự án sân bay Long Thành, Dự án cảng biển Cái Mép - Thị Vải… Đầu tư công sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm và thu nhập cho người dân.

- Về tiêu dùng, tiêu dùng nội địa dự kiến sẽ tiếp tục phục hồi trong năm 2024, nhờ vào sự tăng trưởng của thu nhập và việc làm. Theo dự báo của các tổ chức quốc tế và các chuyên gia trong nước, tiêu dùng nội địa của Việt Nam dự kiến sẽ tăng trưởng trong năm 2024, với mức tăng trưởng dự kiến từ 6-8%.

Các yếu tố chính tác động đến tăng trưởng tiêu dùng nội địa trong năm 2024 là: Tăng trưởng kinh tế, tăng trưởng thu nhập, lãi suất ngân hàng giảm. Kinh tế tiếp tục tăng trưởng trong năm 2024 tạo ra thu nhập và việc làm cho người dân thúc đẩy tiêu dùng nội địa. Thu nhập bình quân của người dân tăng trưởng cũng tạo ra dư địa cho tiêu dùng nội địa. Lãi suất giảm sẽ làm giảm chi phí vay vốn của doanh nghiệp và người dân cũng sẽ thúc đẩy tiêu dùng nội địa.

3. Giải pháp cần thiết

Để năm 2024 bứt phá trong bối cảnh tình hình có thể khó khăn hơn năm 2023, các cấp, các ngành, địa phương cần bám sát các Kết luận, Nghị quyết của Trung ương, Quốc hội, Chính phủ, cụ thể hóa để triển khai thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ cụ thể năm 2024. Tiếp tục ưu tiên, thúc đẩy mạnh mẽ tăng trưởng gắn với củng cố, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm các cân đối lớn của nền kinh tế. Đẩy mạnh, tạo chuyển biến tích cực hơn trong thực hiện các đột phá chiến lược, cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và năng lực nội sinh của nền kinh tế. Để đạt các mục tiêu, có nhiều nhiệm vụ giải pháp lớn được đặt ra trong năm 2024 và thời gian tới.

- Thứ nhất, tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, kịp thời, hiệu quả; phối hợp đồng bộ, hài hòa, chặt chẽ với chính sách tài khóa mở rộng hợp lý, có trọng tâm, trọng điểm và các chính sách khác; tiếp tục phấn đấu giảm mặt bằng lãi suất cho vay; tập trung tín dụng cho các động lực tăng trưởng (đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu), các lĩnh vực ưu tiên; triển khai hiệu quả các gói tín dụng ưu đãi hiện có và nghiên cứu bổ sung các gói mới; phấn đấu tăng trưởng tín dụng năm 2024 khoảng trên 15%.

- Thứ hai, tập trung khắc phục hạn chế, bất cập đã được chỉ ra, đẩy nhanh tiến độ thực hiện, giải ngân vốn đầu tư công, Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế xã hội, các Chương trình mục tiêu quốc gia ngay từ đầu năm; bảo đảm tỷ lệ giải ngân vốn đầu tư công trên 95% kế hoạch. Trình Quốc hội ban hành các Nghị quyết thí điểm về phân cấp trọn gói, cơ chế, chính sách phù hợp thực hiện 3 chương trình mục tiêu quốc gia cho cấp huyện.

- Thứ ba, thực hiện hiệu quả tăng thu, tiết kiệm chi ngân sách nhà nước; kiểm soát chặt chẽ bội chi, nợ công, nợ Chính phủ, nợ nước ngoài quốc gia, nghĩa vụ trả nợ trực tiếp của Chính phủ trong giới hạn cho phép của Quốc hội. Dự toán thu ngân sách nhà nước 2024 tăng khoảng 5% so với thực hiện năm 2023 để ưu tiên tăng cho đầu tư phát triển. Trình Quốc hội xem xét, cho phép tiếp tục thực hiện các chính sách miễn, giảm thuế, phí, lệ phí; ban hành kịp thời các chính sách phù hợp, hiệu quả liên quan đến thuế tối thiểu toàn cầu.

- Thứ tư, phát triển mạnh thị trường trong nước gắn với mở rộng, đa dạng hóa thị trường quốc tế, nâng cao chất lượng sản phẩm, khai thác hiệu quả các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã ký kết; đồng thời đẩy mạnh đàm phán, ký kết các FTA mới; hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao năng lực, tham gia các chuỗi cung ứng toàn cầu; đẩy mạnh phòng, chống buôn lậu, gian lận thương mại.

- Thứ năm, thể chế hóa, thực hiện kịp thời, đầy đủ, hiệu quả các Nghị quyết, Kết luận của Đảng và Quốc hội. Tiếp tục rà soát, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách, pháp luật gắn với nâng cao hiệu lực, hiệu quả tổ chức thực thi; trong năm 2024 dự kiến trình Quốc hội xem xét sửa đổi, bổ sung 23 dự án Luật.

- Thứ sáu, rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung một số chính sách để đáp ứng yêu cầu thực tiễn; phục hồi và phát triển các loại thị trường trái phiếu doanh nghiệp, quyền sử dụng đất, bất động sản, lao động, khoa học công nghệ… Tiếp tục cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, quy định kinh doanh; phấn đấu trong năm 2024 cắt giảm ít nhất 10% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính, quy định kinh doanh.

- Thứ bảy, đẩy mạnh xây dựng, phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng chiến lược đồng bộ, hiện đại, nhất là hệ thống đường cao tốc, nâng cấp các sân bay, bến cảng, hạ tầng đô thị, liên vùng… Hoàn thành một số dự án hạ tầng giao thông quan trọng ; đồng thời thúc đẩy các dự án đường bộ cao tốc để bảo đảm hoàn thành mục tiêu có trên 3.000 km vào năm 2025.

- Thứ tám, tập trung thực hiện hiệu quả, thực chất cơ cấu lại nền kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng lực cạnh tranh, phát triển nhanh, nhưng phải bền vững. phát triển kinh tế số, kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thương mại điện tử, các ngành, lĩnh vực mới nổi. Tập trung phục hồi, phát triển mạnh các ngành công nghiệp, nhất là công nghiệp chế biến, chế tạo, sản xuất chíp bán dẫn.

- Thứ chín, tiếp tục hoàn thiện chính sách đẩy mạnh cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả quản lý, phân bổ, sử dụng ngân sách nhà nước theo hướng tăng cường tính chủ đạo của ngân sách trung ương; đồng thời nâng cao tính chủ động, tích cực, linh hoạt của ngân sách địa phương.

Nhiệm vụ cho năm 2024 đặt ra là rất nặng nề, đòi hỏi các cấp, các ngành, các địa phương phát huy tinh thần đoàn kết, chung sức, đồng lòng, năng động, đổi mới, sáng tạo, không lùi bước trước khó khăn, thách thức, quyết tâm cao hơn, nỗ lực lớn hơn, hành động quyết liệt hơn, bảo đảm có trọng tâm, trọng điểm.

Tiếp tục cơ cấu lại đầu tư công, nhất là vốn vay nước ngoài, thủ tục thông thoáng, sử dụng hiệu quả; tập trung cho các công trình trọng điểm; chấm dứt tình trạng dàn trải, chia cắt, lãng phí, kém hiệu quả.

Tiếp tục cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động, đẩy mạnh đầu tư vốn của hệ thống doanh nghiệp nhà nước, nhất là các dự án quy mô lớn, tác động dẫn dắt, lan tỏa trong các ngành kinh tế chủ lực, các ngành, lĩnh vực mới; sửa đổi Luật Quản lý và sử dụng vốn nhà nước tại doanh nghiệp.

Chú trọng phát triển kinh tế tập thể, triển khai hiệu quả Luật Hợp tác xã năm 2023. Phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân thực sự là một động lực của nền kinh tế, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Thu hút có chọn lọc các dự án đầu tư nước ngoài, gắn kết chặt chẽ với doanh nghiệp trong nước, tham gia sâu rộng hơn vào các chuỗi giá trị khu vực, toàn cầu…

Giải pháp quan trọng nhất còn lại là chúng ta cần phải có những phản ứng chính sách nhanh nhạy và hiệu quả để biến những mục tiêu, dự báo, yếu tố tác động tích cực nói trên thành hiện thực/.

Lê Anh Tú

Phòng Thông tin và xúc tiến thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC