NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Đi “chợ quốc tế” phải văn minh

Những điểm sáng trên chặng đường hội nhập

Kỳ quan trong trời đất, kỳ tích ở trên đời, kể từ khi Việt Nam tiến hành công cuộc đổi mới năm 1986, những cải cách về kinh tế và chuyển hướng sang kinh tế thị trường đã trở thành “ngọn hải đăng” cho những đổi thay trong phát triển kinh tế - xã hội. Tháng 7 năm 2000, bằng việc ký hiệp định thương mại song phương với Hoa Kỳ (BTA), chúng ta đã cam kết chơi theo luật chơi quốc tế, bình đẳng, xóa bỏ phân biệt đối xử giữa hàng hóa,đầu tư trong nước và ngoài nước. Chấp nhận mở cửa cả những ngành dịch vụ như viễn thông, tài chính mà trước đó đã khoanh vùng là "đất của chúa", đã rào thật kín vì "an ninh quốc gia". Sức nặng pháp lý của BTA đã góp phần giúp Việt Nam làm vỡ tảng băng trì trệ của nền kinh tế bao cấp; làm nghiêng đổ những chiếc cột đồng chống đỡ nền kinh tế “xin - cho”; bẻ gãy chiếc then cài cổng cho ngọn gió WTO thổi vào từng phòng họp, hội trường, từng giảng đường, thư viện; tháo tung chiếc hộp pháp lý được sản xuất bằng chất liệu “độc quyền” và “phân biệt đối xử”. Kinh tế Việt Nam được ví như một con tàu ra "biển lớn". Dân tộc Việt Nam đi lên cùng thời đại.

Các cột mốc hội nhập kinh tế chủ yếu của Việt Nam

Các Hiệp định

Thành viên

Hiện trạng

Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO)

Việt Nam là thành viên thứ 150

Gia nhập năm 2007

Hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP)

Gồm 11 nước thành viên

Ký ngày 08 tháng 3 năm 2018

Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA)

Việt Nam và khối EU

Ký ngày 30 tháng 6 năm 2019

Việt Nam - Vương quốc Anh (UKVFTA)

Việt Nam cùng Vương quốc Anh và Bắc Ireland

Hoàn tất đàm phán vào ngày 11/12/2020 và ký kết vào tối 29/12/2020.

Có hiệu lực tạm thời từ ngày 01/01/2021, và chính thức có hiệu lực từ ngày 01/05/2021

     Nguồn: Tổng hợp của tác giả

Đến nay,Việt Nam đã đàm phán và ký kết 17 hiệp định thương mại tự do (FTA), trong đó có 15 FTA đã ký kết, có hiệu lực và 02 FTA đang đàm phán (Gồm các FTA: Việt Nam - EFTA và Việt Nam - Israel). Các FTA đã đưa Việt Nam trở thành một trong những nền kinh tế có độ mở lớn (200% GDP), tạo điều kiện cho các doanh nghiệp (DN) Việt Nam mở rộng tiếp cận và thiết lập quan hệ thương mại với trên 230 thị trường.

Ba năm thực thi hiệp định Đối tác Toàn diện và Tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), là sự gia tăng ấn tượng về kim ngạch xuất khẩu sang các thị trường chưa có FTA, như Canada, Mexico, Peru. Điều này cũng cho thấy, DN dù có những khó khăn nhưng đã bắt nhịp nhanh với các điều kiện CPTPP mang lại, thể hiện khả năng tích ứng linh hoạt. Doanh nghiệp sẵn sàng tới thị trường mới mà trước đây tưởng chừng như rất khó khăn như Chi Lê, Peru, Mexico...

Cũng sau 2 năm thực thi hiệp định thương mại tự do Việt Nam - Liên minh châu Âu (EVFTA), nhiều mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam đã ghi nhận mức tăng trưởng ấn tượng sang thị trường châu Âu như sắt thép (tăng 739%); máy ảnh, máy quay phim, linh kiện (tăng 260%); máy móc và thiết bị (tăng 82,3%). Ngoài ra, một số mặt hàng mới cũng có tăng trưởng cao như gạo, sản phẩm mây tre, cói thảm tăng (trên 50%); các sản phẩm gốm, sứ (tăng trên 25%); nhóm rau quả, dây điện và dây cáp điện (tăng trên 15%). Tổng kim ngạch xuất khẩu từ Việt Nam sang thị trường châu Âu đạt 83,4 tỉ đô la Mỹ (trung bình 41,7 tỉ đô la Mỹ/năm, cao hơn tới 24% so với giai đoạn 2016-2019). Trong đó, tỷ lệ hàng xuất khẩu tận dụng ưu đãi thuế quan của hiệp định này đạt 14,8% trong năm 2020 và tăng lên thành 24,5% trong 6 tháng của năm 2022.

Nhờ hiệp định Thương mại tự do (UKVFTA), kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam -Vương quốc Anh tăng trưởng ấn tượng, đạt 6,6 tỷ USD trong năm 2021 (năm đầu thực thi hiệp định), tăng hơn 17% so với năm 2020. Trong đó, Việt Nam xuất khẩu sang Anh hơn 5,7 tỷ USD, tăng gần 15%; nhập khẩu từ Anh hơn 800 triệu USD. Xuất siêu hơn 4,8 tỷ USD sang Anh ngay trong năm đầu thực thi UKVFTA.

Chợ đã mở không phải ai cũng dễ vào

Ngày nay, tự do hóa thương mại không còn mang nghĩa đơn thuần mua bán giữa các nước - nó còn là sự đổi chác mang tính địa chính trị.

Nhìn lại chặng đường đã qua, bên cạnh những kết quả đạt được, nhìn chung quá trình hội nhập kinh tế thông qua các FTA vẫn chưa thực sự “khắc họa” được những tác động tích cực, mang tính dài hạn. Việt Nam mới đơn thuần tận dụng được lợi ích tĩnh mang tính ngắn hạn, chưa tận dụng được các lợi ích động mang tính dài hạn nhằm “bước lên” các “thang bậc” có giá trị gia tăng cao hơn trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Quy tắc xuất xứ đã, đang và luôn là vấn đề then chốt. Không đáp ứng quy tắc xuất xứ FTA tức là hàng hóa phải chịu thuế MFN (nguyên tắc tối huệ quốc) cao hơn nhiều so với mức thuế FTA từ 0-5%. Quy tắc xuất xứ là thách thức nhưng cũng bao hàm cơ hội khi tạo áp lực thúc đẩy DN nâng cao tỷ lệ nội địa hóa, giá trị gia tăng trong sản phẩm xuất khẩu.

Các cam kết về môi trường và lao động, cũng được cho là sẽ “bức tường rào” khá cao, khiến con đường đến với thị trường FTA thế hệ mới của các DN trở nên “gập ghềnh” hơn. Việc 5 năm bị cảnh bảo “thẻ vàng” IUU đến nay vẫn chưa được tháo gỡ là một minh chứng.

Kể từ vụ kiện đầu tiên vào năm 1994, đã có hơn 200 vụ việc phòng vệ thương mại được điều tra, áp dụng đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam. Từ năm 2020 đến nay, số vụ khởi xướng điều tra liên quan đến phòng vệ thương mại tăng lên đáng kể (trung bình gần 20 vụ mỗi năm trong giai đoạn 2020-2022 so với mức bình quân 12 vụ/năm của thời kỳ 3 năm trước đó).

Những dịch vụ và tiện ích của thương mại điện tử Việt Nam mới đáp ứng nhu cầu mua sắm tối thiểu và làm phong phú thị trường, vẫn còn tồn tại một khoảng cách lớn so với các nước phát triển.

Bức tranh thương mại trong thời gian tới và lối mở

Thế giới không còn “phẳng” nữa. Cuộc chơi thương mại ngày càng khốc liệt và bất quy tắc. Các rào cản kỹ thuật đ­ược xem nh­ư "binh pháp" trong th­ương mại sẽ tái xuất hiện. Các thị tr­ường truyền thống sẽ trở nên "vời xa" do yêu cầu cao về tiêu chuẩn, chất l­ượng, mẫu mã... Đó là hàng loạt những khó khăn mà các DN không dễ gì khắc phục trong “một sớm một chiều”.

Tính toán theo mô hình SMART với 04 FTA (VKFTA, EAEU, CPTPP, EVFTA) cho thấy: Kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các nước đối tác sẽ tăng chủ yếu trong giai đoạn 2019 - 2026, khi các nước đồng loạt giảm thuế cho Việt Nam. Tuy nhiên, cần lưu ý rằng những lợi thế cạnh tranh về giá nếu chỉ dựa vào FTA sẽ không dài hạn. Sự gia tăng xuất khẩu của Việt Nam chủ yếu là do các nước đối tác FTA chuyển hướng nhập khẩu từ các quốc gia khác trên thế giới sang Việt Nam do giá hàng của Việt Nam trở nên rẻ hơn so với các đối thủ cạnh tranh nhờ ưu đãi thuế. Như vậy, các DN Việt cần chuẩn bị chiến lược hợp lý để tận dụng ưu đãi thuế vì các nước đối tác FTA có thể quyết định đàm phán FTA với các quốc gia khác bất cứ lúc nào trong bối cảnh bất định của thương mại toàn cầu hiện nay.

Như vậy, bám sát và đón đầu xu hướng phải được coi là tư tưởng chủ đạo, là quan điểm xuyên suốt và “Cover” toàn bộ quá trình xây dựng chiến lược phát triển thương mại và thị trường. Để vào“chợ” thế giới, cần tập trung vào một số công việc cấp bách sau :

i. Phải chấp nhận “Luật chơi”và “Cách chơi”. Thể chế kinh doanh cần tiếp cận nhanh với các chuẩn mực, thông lệ của thế giới. Rà soát lại 5.600 tiêu chuẩn hiện hành (hiện mới chỉ có khoảng 24% tiêu chuẩn bảo đảm hài hoà với tiêu chuẩn quy định của quốc tế và khu vực).

ii. Nguồn nhân lực cần được ctrọng đào tạo ứng dụng các kỹ năng nghiên cứu thị trường, marketing, kỹ năng đàm phán quốc tế, nghiệp vụ kỹ thuật ngoại thương, trình độ ngoại ngữ, tin học… đặc biệt kỹ năng về: Phân tích, xử lý, dự báo và tư duy xây dựng chiến lược. Lãnh đạo DN cần được tạo cơ hội cọ xát, thông qua các hoạt động giao lưu và đào tạo ngắn hạn tại nước ngoài.

iii. Để quá trình chuyển đổi số nhanh, hiệu quả và bền vững, cần nâng cao nhận thức của lãnh đạo các DN, chủ động tìm hiểu, lựa chọn các công nghệ phù hợp với lĩnh vực hoạt động, từ đó lựa chọn đối tác cung cấp các giải pháp, công nghệ để thực hiện quá trình số hóa cho DN mình. Chủ động đầu tư hệ thống máy móc, thiết bị, công nghệ phù hợp, nguồn nhân lực phục vụ cho quá trình chuyển đổi số của DN.

iv. Phát triển thương hiệu xanh không chỉ còn là đạo đức DN mà đã trở thành luật chơi mới sau sự kiện COP26 mà ở đó, Việt Nam cam kết đưa mức phát thải ròng về zero vào năm 2050. Chiến lược phát triển thương hiệu cần thống nhất xác định trong thời gian dài và có sự đảm bảo nhất định về tài chính.

 Xây dựng chỉ dẫn địa lý Việt Nam, theo đó (i) cần tạo nguồn cung sản phẩm ổn định với những đặc trưng cụ thể/cần thiết; (ii) hình thành các tổ chức hợp tác hữu hiệu để thực hiện các hoạt động xúc tiến, tiếp thị; (iii) hợp tác chặt chẽ trong tất cả các khâu của quá trình sản xuất trên cơ sở cung cấp thông tin, hỗ trợ và khuyến khích doanh nghiệp đăng ký bảo hộ chỉ dẫn địa lý cho sản phẩm.

Áp dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc, tức là hệ thống theo dõi và truy xuất giúp các DN và cơ quan chức năng định vị được vị trí của sản phẩm trong tất cả các giai đoạn của chuỗi cung ứng.

v. Khả năng bị kiện hay trả đũa sẽ gia tăng trong thời gian tới,vì vậy việc chuẩn bị và minh bạch hoá sổ sách, kế toán, theo dõi thông tin, phối hợp công bố thông tin, nhân lực am hiểu luật lệ, vận động hành lang, ngoại giao... sẽ là những vấn đề DN phải chuẩn bị. Vai trò của Việt kiều cần được phát huy cao độ .

vi. Các hoạt động xúc tiến thương mại cần được tăng cường. Đặc biệt ở những thị trường ngách, thị trường mới đối với các mặt hàng phù hợp với sở trường, năng lực của các DN Việt Nam.

Va đập thường sẽ có rạn nứt, thậm chí đổ vỡ, nhưng cũng sẽ là cơ hội để những ai đủ sức chịu đựng, vượt qua được sức ép đó vươn lên. Liệu Việt Nam có thể vượt qua sức ép để nắm lấy cơ hội từ “cuộc va đập” đó ? Câu hỏi này nằm về phía Chính phủ, mỗi bộ, ngành, từng địa phương, mỗi DN và người dân trong sự quyết tâm để vào “chợ quốc tế - điều mà chúng ta cần tiến đến trong những năm cuối của thập kỷ này./.

Vũ Huy Hùng

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC