NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Chỉ số thương mại bền vững

Chỉ số Thương mại Bền vững là một chỉ số được xây dựng bởi Economist Intelligence Unit và là một nghiên cứu quy chuẩn, được ủy thác bởi Hinrich Foundation. Đây là ấn bản thứ hai của nghiên cứu, chỉ số đầu tiên được xuất bản vào năm 2016. Chỉ số này đo lường năng lực của 20 nền kinh tế (19 nền kinh tế Châu Á và Hoa Kỳ) trong việc tham gia vào hệ thống thương mại quốc tế theo cách thức hỗ trợ các mục tiêu dài hạn ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế nhằm tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường cũng như củng cố vững chắc nguồn vốn xã hội. Chỉ số bao gồm 24 chỉ báo, được phân loại thành ba nhóm đại diện cho ba lĩnh vực nói trên, để đo lường và đánh giá xem liệu một quốc gia có tham gia vào thương mại bền vững hay không.

Thực tiễn và vấn đề đặt ra

Bảo vệ môi trường đã trở thành mục tiêu phát triển thứ 3 trong tam giác: Kinh tế - Xã hội - Môi trường của quá trình phát triển bền vững. Sự kết hợp hài hòa giữa 3 mục tiêu: Kinh tế - Xã hội - Môi trường sẽ bảo đảm tính bền vững của sự phát triển.


Mô hình phát triển bền vững

Khuyến khích tự do thương mại trong khi vẫn duy trì và tăng cường bảo vệ môi trường và các nguồn lợi tự nhiên là một  trong những thách thức lớn của thập kỷ mà chúng ta đang sống. Lần đầu tiên quốc tế đã có một tính toán về hậu quả của sự phá hủy môi tr­ường.Giá phải trả cho việc tàn phá thiên nhiên đến năm 2050 có thể lên đến 2 nghìn tỷ euro.

Mối quan hệ giữa thư­ơng mại và phát triển bền vững là một trong những mối quan hệ phức tạp. Trong thời đại ngày nay, khi vấn đề khu vực hóa, toàn cầu hoá nền kinh tế đã và đang trở thành một xu thế tất yếu thì vai trò của thư­ơng mại ngày càng tăng lên. Gia tăng các hoạt động thư­ơng mại, một mặt đã góp phần tích cực trong quá trình tăng trư­ởng kinh tế, nhằm nâng cao mức sống và thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của nhân loại. Mặt khác, trong một chừng mực nào đó, các hoạt động thư­ơng mại đã ảnh hư­ởng đến môi trư­ờng sống của con ngư­ời trên toàn thế giới cũng như ở mỗi quốc gia. Vì vậy, việc giải quyết và xử lý vấn đề phát triển thương mại bền vững là một trong những vấn đề lớn của toàn thể loài ngư­ời và của mỗi quốc gia trong thế kỷ XXI.

Trong điều kiện phát triển của kinh tế thị trường, thương mại trở thành một lĩnh vực hoạt động liên ngành, là miền giao thoa của các hoạt động sản xuất và tiêu dùng. Khuyến khích tự do thương mại, phát triển kinh tế, trong khi vẫn duy trì và tăng cường bảo vệ môi trường và các nguồn lợi tự nhiên là một  trong những thách thức lớn của thập kỷ mà chúng ta đang sống. Trong nhiều trường hợp, tự do thương mại thúc đẩy việc sử dụng tài nguyên thiên nhiên có hiệu quả, làm giảm sự lãng phí trong sản xuất và tiêu dùng.Tuy nhiên việc gia tăng mức độ và phạm vi hoạt động của nó cũng có thể dẫn đến việc huỷ hoại môi trường. Các nguy cơ trở thành gánh nặng của môi trường sinh thái không chỉ sinh ra và xuất phát do các thay đổi trong các chính sách, luật lệ thương mại, dẫn đến sự “mở cửa” thị trường, mà còn có thể trầm trọng hơn do các thay đổi luật lệ, chính sách dẫn đến sự  “đóng cửa” hay cách biệt hoá hoặc bảo hộ thị trường.

Mặc dù các doanh nghiệp FDI đang đóng góp hơn 70% kim ngạch xuất khẩu, nhưng các doanh nghiệp này đang có xu hướng dịch chuyển dòng vốn vào các ngành tiêu tốn năng lượng và tài nguyên, nhân lực, không thân thiện với môi trường, như luyện kim, sửa chữa tàu biển, dệt may, da giày, khai thác và tận thu khoáng sản không gắn với chế biến sâu... tuy thiếu dẫn chứng cụ thể vì không có số liệu từ các cơ quan chức năng, báo cáo của Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) chỉ ra những số liệu đáng lo lắng: 67% doanh nghiệp FDI hoạt động ở Việt Nam thuộc ngành sản xuất có giá trị gia tăng thấp, 80% có công nghệ trung bình, 14% sử dụng công nghệ thấp, tiêu thụ nhiều năng lượng và khả năng phát thải cao.

Để có sản lượng cà phê, cao su, tiêu, tôm... xuất khẩu tăng liên tục, chúng ta đã phải trả giá bằng hàng triệu ha rừng. Chỉ trong 5 năm từ 2006 đến 2011, có 124.000 héc ta rừng ngập mặn ven biển đã biến mất để nhường chỗ cho các ao tôm, ao cá, tương đương diện tích bị mất trong 63 năm trước đó. Chỉ trong vòng 7 năm, tính từ cuối năm 2005, sản lượng cà phê xuất khẩu của Việt Nam tăng gần 2,5 lần, cao su (thiên nhiên) xuất khẩu cũng tăng hai lần. Nhưng thành quả này cũng phải trả giá rất đắt, vì trong cùng thời gian đó, chỉ riêng ở khu vực Tây Nguyên 206.000 ha rừng đã biến mất.

Độ che phủ, chất lượng rừng ở các tỉnh đã giảm sút đến mức báo động. Trên thực tế chỉ còn khoảng 15% là rừng nguyên thủy. Theo thống kê, ở nhiều tỉnh, độ che phủ của rừng tự nhiên, nhất là rừng già, rừng đặc dụng, rừng phòng hộ còn lại rất thấp: Lai Châu chỉ còn 7,8%, Sơn La 11,9% và Lào Cai là 5,3%... Đắc Nông, Quảng Nam, Phú Yên, Thanh Hóa, Điện Biên… rừng đang bị “thay thế” với diện tích khá lớn để nhường chỗ cho các dự án, khách sạn, sân gôn, nương rẫy. Mặc dù Thủ tướng đã có lệnh đóng cửa rừng, nhưng đâu đó rừng vẫn cứ bị chảy máu, vẫn bị đốn hạ không thương tiếc vì những lợi ích cục bộ, trước mắt.

Thị trường nước ta 15 năm vừa qua phát triển khá nhanh, đáp ứng nhu cầu đa dạng, muôn màu, muôn vẻ của người tiêu dùng. Tuy nhiên tính phong phú của “giai điệu” thị trường bao giờ cũng kèm theo những vấn đề nan giải đặt ra :

- Hàng giả, hàng quá “đát”vẫn xuất hiện khá nhiều bất chấp sự cảnh báo của báo chí, truyền hình, sự lên án của dư luận xã hội.

- Hoá chất cấm, phẩm mầu không an toàn vẫn được sử dụng trong chế biến và bảo quản thực phẩm, món ăn, đồ uống… gia cầm nhập lậu vẫn được đưa vào lưu thông, đe doạ sức khoẻ, tính mạng con người.

- Trung bình, mỗi năm nước ta tiêu thụ hơn 50 nghìn tấn dược liệu và hơn 10 nghìn sản phẩm đông dược lưu hành. Tuy nhiên mặt hàng có số đăng ký còn quá ít. Theo Cục Quản lý Dược, hiện 90% nguyên liệu làm thuốc ở nước ta phải nhập khẩu. Tuy nhiên, cơ quan chức năng chưa kiểm soát được hết nguồn dược liệu nhập khẩu cũng như kiểm định chất lượng đầu vào.

- Hoạt động kinh tế đối ngoại mang đậm nét thâm dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên, khoáng sản sẵn có của đất nước. Cùng với nhịp độ tăng trưởng xuất khẩu, nguồn tài nguyên khoáng sản dưới lòng đất cũng được khai thác khá mạnh (than, sắt, bô-xit,vàng, von-phram…). Nếu tính đúng, tính đủ các loại chi phí, kể cả chi phí để giải quyết vấn đề môi trường (không ít hơn 40-50% tổng chi phí khai thác - theo kinh nghiệm của thế giới) thì khai thác khoáng sản nói chung và xuất khẩu khoáng sản  nói riêng phải được xem xét một cách cẩn trọng.

Hiện cả nư­ớc có gần 3.000 làng nghề, phân bố ở 58 tỉnh thành, trong đó các làng nghề có quy mô nhỏ, trình độ sản xuất thấp, thiết bị cũ và công nghệ lạc hậu chiếm phần lớn (trên 70%) đã và đang nảy sinh nhiều vấn đề, tác động xấu tới chất l­ượng môi trư­ờng đất, nư­ớc, không khí và sức khoẻ của dân làng nghề. Kết quả của nhiều cuộc khảo sát, nghiên cứu gần đây cho thấy, tỷ lệ người mắc bệnh tại các làng nghề gia tăng và tập trung vào một số bệnh ngoài da, hô hấp, tiêu hóa, thần kinh, các chứng bệnh phụ khoa và đặc biệt là các loại ung thư. Những “danh hiệu” mới không mấy tốt đẹp càng ngày càng xuất hiện với tần xuất dày hơn trên các phương tiện truyền thông: “làng ung thư”, “làng nhiễm độc chì”, “làng khát nước sạch”...

Việt Nam có đường biên giới trên bộ khá dài với Trung Quốc, Lào, Căm-pu-chia cùng mạng lưới khá lớn chợ biên giới, chợ cửa khẩu, chợ trong khu kinh tế cửa khẩu… phục vụ cho việc trao đổi hàng hoá, thăm thân của cư dân biên giới hai nước. Bên cạnh các hoạt động nhập khẩu được quản lý kiểm tra chính thức (chính ngạch), vẫn còn một lượng không nhỏ nhập khẩu theo diện hàng hóa trao đổi cư dân biên giới (tiểu ngạch), thậm chí nhập khẩu lậu qua các đường mòn, lối mở biên giới không được kiểm tra chất lượng. Đánh giá chung, trong danh mục nhập khẩu, những loại hàng hóa có thể gây nguy hại đối với môi trường và sức khỏe con người, chủ yếu là :

- Thực vật tươi sống và thực phẩm chế biến

- Hóa chất: thuốc bảo vệ thực vật, hóa chất sử dụng trong công nghiệp

Tận dụng lợi thế giá rẻ, chi phí vận chuyển thấp, nhiều loại máy móc thiết bị đã được nhập khẩu vào Việt Nam. Theo các chuyên gia, có khoảng 10% doanh nghiệp bị đánh giá là nhập khẩu và đưa vào sử dụng các công nghệ, thiết bị gây ô nhiễm môi trường.

Theo Ngân hàng Thế giới, ô nhiễm môi trường tại Việt Nam gây thiệt hại đến 5% GDP. Đó là một con số khổng lồ. Nguồn vốn FDI đang mang lại động lực cho tăng trưởng, nhưng những rủi ro môi trường mà khu vực này mang lại không hề nhỏ, mà minh chứng rõ ràng nhất là vụ Vedan. Tiếc thay, không nhiều bài học được rút ra từ vụ này.

Tự do hoá th­ương mại và bảo hộ sản xuất trong nước, phát triển kinh tế và bảo vệ môi trường cần phải tìm được lời giải hợp lý với một lộ trình hội nhập khoa học. Nếu không, hậu quả tới môi trường sinh thái sẽ là khôn lường. Trở ngại lớn nhất đối với các nư­ớc đang phát triển hiện nay là làm thế nào để tận dụng được cơ hội của quá trình hội nhập để vừa phát triển kinh tế, đồng thời hạn chế đến mức thấp nhất những tác động tiêu cực của nó đối với các vấn đề xã hội và môi trư­ờng. Trong bối cảnh như­ vậy cần thiết phải có cơ chế phối hợp xây dựng và triển khai các chính sách trong phát triển và bảo vệ môi trư­ờng ngay từ giai đoạn đầu của quá trình công nghiệp hoá .

Chỉ số đo lường sự phát triển Thương mại Bền vững

Chỉ số Thương mại Bền vững - Hinrich Foundation đo lường khả năng tham gia vào hệ thống thương mại quốc tế của một quốc gia theo cách thức theo đuổi các mục tiêu dài hạn ở cả cấp độ quốc gia và quốc tế về tăng trưởng kinh tế, bảo vệ môi trường và củng cố vững chắc nguồn vốn xã hội. Mỗi quốc gia trong Bảng xếp hạng được đánh giá và cho điểm trên ba nhóm tiêu chí này, tức các lĩnh vực then chốt. Chỉ số năm nay là kết quả lần nghiên cứu thứ hai của chương trình được công bố lần đầu năm 2016.

Sau khi đánh giá toàn diện các nghiên cứu đã từng được thực hiện trong ba lĩnh vực then chốt của phát triền bền vững - kinh tế, môi trường và xã hội - nhóm nghiên cứu - Economist Intelligence Unit  đã chọn ra một số chỉ báo và chỉ báo phụ đề khảo sát các khái niệm này. Lĩnh vực kinh tế bao gồm 14 chỉ báo và bốn chỉ báo phụ, lĩnh vực xã hội và môi trường lần lượt gồm 4 và 6 chỉ báo.

Lĩnh vực Kinh tế

Lĩnh vực kinh tế đánh giá khả năng đảm bảo và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia thông qua thương mại quốc tế. Trong nhóm này, các quốc gia được đánh giá dựa trên một số thước đo thể hiện mối liên hệ giữa hệ thốngvà tăng trưởng kinh tế. Một số chỉ báo quyết định mức độ dễ dàng của hoạt động thương mại quốc tế, chẳng hạn như khả năng chuyền đổi tài khoản vãng lai và nhiều chi phí thương mại khác nhau gắn liền với các giao dịch xuyên biên giới. Sự đa dạng xuất khẩu được đánh giá thông qua điểm đích của hoạt động thương mại song phương và mức độ tập trung vào sản phẩm xuất khẩu của mỗi quốc gia, bởi vì các sản phẩm và thị trường xuất khẩu đa dạng cho phép một quốc gia có thể hấp thu tốt hơn những cú sốc kinh tế từ các nền kinh tế đối tác thương mại. Đầu tư và chất lượng cơ sở hạ tầng của mỗi quốc gia cũng cần được xem xét, vì những yếu tố này sẽ thúc đẩy nền sản xuất trong nước và ngoại thương ở cấp độ doanh nghiệp. 

Lĩnh vực Xã hội

Lĩnh vực xã hội bao gồm các nhân tố xã hội liên quan đến khả năng hoạt động thương mại quốc tế dài hạn của một quốc gia và sức chịu đựng của người dân trước nhu cầu mở rộng thương mại với các chi phí và lợi ích của tăng trưởng kinh tế nhất định. Trọng tâm của lĩnh vực này chính là khái niệm về vốn nhân lực. Về phương diện này, các quốc gia được đánh giá về môi trường khuyến khích và hỗ trợ sự phát triền về vốn nhân lực tại quốc gia đó. Ví dụ như, mức độ bất bình đẳng và tiêu chuẩn lao động trong một quốc gia đó đều được đánh giá trong lĩnh vực này. Ngoài ra, thành quả giáo dục và tính ổn định chính trị cũng chi phối yếu tố vốn nhân lực và môi trường mà trong đó vốn nhân lực có thể được khai thác hiệu quả.

Lĩnh vực Môi trường

Lĩnh vực môi trường đánh giá mức độ mà một quốc gia sử dụng tài nguyên thiên nhiên và quản lý các yếu tố bên ngoài phát sinh trong quá trình tăng trưởng kinh tế và tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu. Trên thực tế, mặc dù khả năng tham gia vào hệ thống thương mại toàn cầu phụ thuộc vào sự phát triền kinh tế, nhưng một quốc gia vẫn phải hết sức thận trọng khi quản lý tài nguyên thiên nhiên và hạn chế các yếu tố tác động bên ngoài trong các bài toán kinh tế của mình để thúc đẩy vốn tài nguyên tổng thể. Các chỉ báo được lựa chọn đã lượng hóa vốn môi trường của một quốc gia, bao gồm cả việc sử dụng tài nguyên và các yếu tố bên ngoài. Lĩnh vực này đánh giá mức độ ô nhiễm không khí và nước. Liên quan đến các tác động trong tương lai đến thương mại, chúng tôi đánh giá các tiêu chuẩn môi trường, lượng khí thải carbon và tỷ lệ nguồn tài nguyên thiên nhiên trong xuất khẩu.

Các Chỉ báo và các Nhóm thu nhập

Căn cứ vào kết quả của giai đoạn nghiên cứu, quan điểm trung lập được ghi nhận đối với các trọng số tương đối của ba lĩnh vực. Kết quả đánh giá từ các nghiên cứu về phát triền bền vững cho thấy rõ ràng rằng không thể đưa ra kết luận tuyệt đối về lĩnh vực nổi trội nhất so với các lĩnh vực còn lại. Vì vậy, có thể áp dụng trọng số trung bình là 33,3% cho mỗi lĩnh vực; trong đó mỗi chỉ báo có tỷ lệ như nhau trong nhóm của mình. Các quốc gia trong Bảng xếp hạng được phân chia thành ba nhóm thu nhập để giúp so sánh về mức độ phát triển bền vững của hoạt động thương mại. Ba nhóm thu nhập được phân loại dựa trên GDP bình quân đầu người như là một phương pháp đề nắm bắt các giai đoạn phát triển kinh tế của các quốc gia trong bảng chỉ số.

Thu nhập cao

Thu nhập trung bình

Thu nhập thấp

Brunei

Hồng Kông

Nhật Bản

Singapore

Hàn Quốc

Đài Loan

Hoa Kỳ

Trung Quốc

Malaysia

Thái Lan

Bangladesh

Campuchia

Ấn Độ

Indonesia

Lào

Myanmar

Pakistan

Philippines

Sri Lanka

Việt Nam

Chuẩn hóa các chỉ báo

Để có thể so sánh các điểm dữ liệu giữa các quốc gia, đồng thời để xây dựng các điểm xếp hạng tổng hợp cho mỗi quốc gia, nghiên cứu đã chuẩn hóa tất cả các chỉ báo trên thang điểm từ 0-100, sử dụng phương pháp tính toán giá trị tối thiểu - giá trị tối đa. Điểm số thể hiện độ lệch chuẩn so với giá trị trung bình, với quốc gia ghi điểm cao nhất là 100 điểm và thấp nhất là 0.

Trong một số trường hợp, điểm đánh giá được tính theo thang điểm từ 1-5, với 1 là điểm thấp nhất hoặc tiêu cực nhất và 5 là điểm cao nhất hoặc triển vọng nhất. Các chỉ báo định tính được đánh giá trên thang điểm từ 1-5 sau đó được quy đổi về thang điểm từ 0-100 để dễ dàng so sánh với các chỉ báo khác trong chỉ số.

Thay đổi chỉ báo

Nghiên cứu hầu như giữ nguyên cấu trúc chỉ số giống như phiên bản năm 2016 của chỉ số. Trong nhiều trường hợp, phải thay đổi nguồn dữ liệu:

Tiêu chuẩn lao động

Chỉ báo này đã được cập nhật để đưa vào thêm nhiều nguồn dữ liệu so với cùng mục chỉ báo của Chỉ số năm 2016. Năm 2016, việc đánh giá bị hạn chế ở dữ liệu từ nguồn ILO và EIU.Trong phiên bản này, đã cân nhắc các nguồn bổ sung: Chỉ số Nô lệ Toàn cầu, Bộ Lao động Hoa Kỳ và báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới.

Các tiêu chuẩn môi trường trong thương mại

Nghiên cứu đã thay thế Thành viên của Nhóm Sáng kiến Hàng hóa Xanh trong chỉ số năm 2016 bằng quy ước Basel về Kiểm soát Vận chuyển và Thải bỏ Chất thải Độc hại Xuyên Biên giới; Tu chính về quy định cấm.

Phát thải chuyển giao do thương mại

Với những nghiên cứu mới từ Dự án Carbon Toàn cầu,nghiên cứu đã cập nhật chỉ báo phát thải này để phản ánh khoảng cách giữa phát thải sản xuất và phát thải tiêu dùng.

Các nguồn dữ liệu

Một nhóm các nhà nghiên cứu nội bộ đã thu thập dữ liệu chỉ số tháng 1 và tháng 2 năm 2018. Ngoài các dữ liệu độc quyền từ Economist Intelligence Unit, trong đó bao gồm một loạt các chỉ báo định lượng và định tính, nghiên cứu cũng sử dụng các thông tin công khai sẵn có từ các nguồn chính thức nếu phù hợp. Các nguồn dữ liệu chính thu thập từ Ngân hàng Thế giới, UNESCO và nhiều nguồn khác. 

Chỉ báo

Đơn vị

Nguồn

Mô tả

Lĩnh vực kinh tế

1.1) Tăng trưởng GDP bình quân đầu người

%

EIU

Mức độ tăng trưởng GDP bình quân đầu người so với cùng kỳ năm trước. Là một phương thức đánh giá thu nhập cá nhân, chỉ báo này phản ánh khả năng mua hàng hóa nhập khu của người tiêu dùng.

1.2) Tự do hóa tài khoản vãng lai

1-5 điểm

EIU

Thước đo tự do hóa tài khoản vãng lai của một quốc gia, cùng với các hạn chế trong lĩnh vực này được sử dụng để đánh giá mức độ dễ dàng trong quan hệ giao thương qua biên giới với quốc gia đó.

1.3) Rào cản thuế quan và phi thuế quan

1-5 điểm

EIU

Công cụ đánh giá về hàng rào thuế quan và hàng rào phi thuế quan bao gồm hạn ngạch thương mại, thủ tục cấp phép và kiểm tra hàng hóa nhập khẩu. Chỉ báo này là thước đo khái quát về những trở ngại khi hoạt động thương mại tại một quốc gia.

1.4) Biến động tỷ giá hối đoái

Độ lệch chuẩn theo tỷ lệ thương mại

EIU

Độ lệch chuẩn về tỷ giá hối đoái của một quốc gia so với đối tác thương mại lớn của quốc gia đó. Đây là một thước đo trọng số thương mại để phản ánh tầm quan trọng ngày càng tăng của biến động tỷ giá khi kim ngạch thương mại tăng lên. Khi được sử dụng như một chỉ báo, biến động
tỷ giá hối đoái là một nguồn bất ổn tiềm ẩn khi tiến hành các hoạt động
thương mại.

1.5) Chiều sâu hoạt động tài chính

% GDP

EIU

Tín dụng trong nước cho khu vực tư nhân, được tính bằng tỷ lệ phần trăm GDP. Chỉ báo này là một phương thức đánh giá tính khả dụng của nguồn tài chính thương mại để hạn chế tác động của biến động tỷ giá hối đoái.

1.6) Ngoại thương và rủi ro thanh toán

1-100 điểm

EIU

Thước đo đánh giá rủi ro của một công ty khi nhận tiền hoặc mang tiền vào hoặc đưa tiền ra khỏi một quốc gia. Chỉ báo này thể hiện các rủi ro khi tiến hành hoạt động thương mại, làm tăng rào cản thương mại đối với doanh nghiệp.

1.7) Tập trung vào thị trường xuất khẩu

Trung bình phần trăm

EIU

Tỷ trọng xuất khẩu của một quốc gia theo thị trường xuất khẩu, được tính là bình quân giá trị xuất khẩu của bốn đối tác thương mại hàng đầu của quốc gia đó. Chỉ báo này là thước đo mức độ tập trung thị trường xuất khẩu, bởi vì thị trường xuất khẩu tập trung càng cao thì hệ thống thương mại càng dễ bị tổn thương.

1.8) Tập trung vào sản phẩm xuất khẩu

Trung bình phần trăm

EIU

Tỷ trọng xuất khẩu của một quốc gia theo sản phẩm (trái ngược với thị trường xuất khẩu), được tính bình quân giá trị xuất khẩu của bốn sản phầm xuất khẩu chủ đạo của quốc gia đó. Chỉ báo này đánh giá mức độ tập trung sản phẩm xuất khẩu, cho thấy dấu hiệu nền kinh tế dễ bị tổn thương nếu tập trung quá cao vào một số sản phẩm nhất định.

1.9) Đầu tư trực tiếp nước ngoài

% GDP

EIU

FDI trong nước là một phần cấu thành GDP. Chỉ báo này đánh giá nguồn vốn đầu tư hỗ trợ hoạt động thương mại và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của một quốc gia.

1.10) Tổng vốn cố định

% GDP

EIU

Tổng vốn đầu tư cố định trong nền kinh tế quốc gia. Cũng giống như FDI, tổng vốn đầu tư của một quốc gia thúc đẩy các hoạt động thương mại và tăng trưởng kinh tế.

1.11) Chi phí thương mại

0-100 điểm

EIU/ Ngân hàng Thế giới

Thước đo tổng hợp của các yếu tố góp phần làm tăng chi phí cho hoạt động thương mại. Chỉ báo này thể hiện sự gia tăng gánh nặng đối với thương mại có nguyên nhân từ sự thiếu hiệu quả trong hệ thống thương mại.

1.12) Đối mới công nghệ

% GDP

UNESCO/ Ngân hàng Thế giới

Một thước đo đầu tư của một quốc gia vào nghiên cứu và phát trin theo phần trăm tổng GDP. Chỉ báo này xem xét năng lực của một quốc gia trong việc đổi mới và tham gia vào hệ thống thương mại khi chuyển dịch hướng tới những sản phẩm phức tạp hơn.

1.13) Hạ tầng công nghệ

1-5 điểm

EIU

Thước đo cơ sở hạ tầng kỹ thuật của một quốc gia qua việc sử dụng viễn thông và máy vi tính. Chỉ báo này đánh giá cơ sở hạ tầng IT của một quốc gia để thu hút FDI và để có cơ sở hạ tầng cạnh tranh cho xuất khẩu.

1.14) Tăng trưởng lực lượng lao động

%

EIU

Sự thay đổi về lực lượng lao động của một quốc gia so với cùng kỳ năm trước. Lực lượng lao động có mức tăng ổn định hỗ trợ sự tăng trưởng kinh tế.

Lĩnh vực xã hội

2.1) Bất bình đẳng

Hệ số GINI

Ngân hàng Thế giới/CIA

Từ Ngân hàng Thế giới: Chỉ số Gini đánh giá mức độ lệch khỏi phân bố công bằng tuyệt đối của việc phân chia thu nhập (hoặc, trong một số trường hợp là chi phí tiêu dùng) giữa các cá nhân hoặc hộ gia đình trong một nền kinh tế. Đường đồ thị Lorenz thể hiện phần trăm lũy kế tổng thu nhập nhận được so với lũy kế số người nhận, bắt đầu từ cá nhân hay hộ gia đình nghèo nhất. Chỉ số Gini đo khoảng cách giữa đường Lorenz và đường giả thiết công bằng tuyệt đối, thể hiện bằng phần trăm khu vực tối đa dưới đường đó. Chỉ số Gini bằng 0 cho thấy sự công bằng tuyệt đối, còn chỉ số 100 cho thấy sự bất công tuyệt đối.

2.2) Trình độ giáo dục

%

UNESCO/ Ngân hàng Thế giới

Tỷ lệ phần trăm các cá nhân được tiếp cận giáo dục sau phổ thông. Chỉ báo này là cơ sở đánh giá mức thành quả giáo dục đạt được, phản ánh mối quan hệ giữa vốn nhân lực và hoạt động thương mại.

2.3) Tiêu chuẩn lao động

0-4 điểm

Điểm tùy chỉnh EIU

Đánh giá định tính của EIU về tiêu chuẩn lao động dựa trên ba loại: lao động ép buộc, lao động trẻ em và quyền người lao động. Các nguồn bao gồm: Chỉ số Nô lệ Toàn cầu; "Danh sách các Mặt hàng Sản xuất bởi Lao động trẻ em hoặc Lao động ép buộc" của Bộ Lao động Hoa Kỳ; thống kê của ILO về mức độ thịnh hành lao động trẻ em; báo cáo Doing Business của Ngân hàng Thế giới; và Risk Briefing của EIU.

2.4) Ổn định chính trị

0-100 điểm

EIU

EIU đánh giá và cho điểm các quốc gia trong bảng xếp hạng căn cứ vào mức độ ổn định chính trị trong một năm cụ thể, từ đó cho thấy mối liên hệ giữa hoạt động thương mại và sự ổn định chính trị và xã hội trong một quốc gia.

Lĩnh vực môi trường

3.1) Ô nhiểm không khí

0 đến giới hạn trên

Yale EPI

Mật độ vật chất dạng hạt 2,5 (PM 2,5) thể hiện tình trạng ô nhiễm không khí trong một quốc gia. Chỉ báo này nhấn mạnh mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại và tình trạng ô nhiễm.

3.2) Phá rừng

Giới hạn dưới đến 0

Yale EPI

Sự thay đổi về độ che phủ của rừng của một quốc gia. Chỉ báo này đánh giá mức độ nghiêm trọng của nạn phá rừng ở một quốc gia theo thời gian, phản ánh mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại và sự suy thoái các nguồn tài nguyên thiên nhiên.

3.3) Ô nhiễm nguồn nước

% nước thải qua xử lý

Yale EPI

Mức độ ô nhiễm nước ở một quốc gia. Chỉ báo này phản ánh mối liên hệ giữa tăng trưởng kinh tế, hoạt động thương mại và tình trạng ô nhiễm ở một quốc gia.

3.4) Tiêu chuẩn môi trường trong kinh doanh

1-7 điểm

EIU/WTO

Điểm EIU dựa trên tư cách thành viên hoặc việc thông qua các thỏa thuận môi trường quốc tế.

1. Quy ước Basel về kiểm soát Vận chuyển và Thải bỏ chất thải độc hại xuyên biên giới, tu chính về quy định cấm.

2. Quy ước Phòng tránh Ô nhiễm Biển do xả chất thải hoặc vật chất khác.

3. Quy ước bảo vệ tầng Ôzôn.

4. Nghị định thư Kyoto tới Hội nghị Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu.

5. Hiệp định Gỗ Quốc tế.

6. Hội nghị Thương mại Quốc tế về các loài động thực vật hoang dã đang bị đe dọa.

7. Hội nghị Rotterdam về Quy trình Đồng thuận Được Thông Báo trước đối với một số hóa cht và thuốc bảo vệ thực vật nguy hại trong thương mại quốc tế

3.5) Phát thải chuyển giao do thương mại

Tỷ lệ thực tổng phát thải từ sản xuất

Dự án Carbon Toàn cầu

Phát thải chuyn giao do thương mại là một phn ca tng lượng phát thải trong lãnh thổ một quốc gia (MtC02). Các quốc gia có ngành công nghiệp xuất khẩu bẩn góp phần vào mô hình thương mại toàn cầu kém bền vững.

3.6) Tỷ lệ tài nguyên thiên nhiên trong thương mại

%

UNCTAD Chỉ số tập trung

Dữ liệu UNCTAD đánh giá các tài nguyên thiên nhiên (quặng và kim loại, nhiên liệu khoáng, dầu nhờn và các nguyên vật liệu có liên quan) như một phần của tng thương mại ca một quốc gia.

Kết luận và giải pháp

Với sự mở cửa thương mại mạnh mẽ và tiêu chuẩn lao động được nâng cao, Việt Nam tiến bộ vượt bậc trên bảng Chỉ số Thương mại bền vững - Hinrich Foundation 2018.  Xếp thứ 9 trên bảng xếp hạng Chỉ số, tăng 2 điểm so với năm 2016 và vượt mức thu nhập quốc gia 6 điểm, Việt Nam là một trong những quốc gia có biểu hiện tốt nhất trên bảng Chỉ số này. Việt Nam đã vượt mặt các quốc gia có thu nhập trung bình khác như Malaysia và Thái Lan. Đây là kết quả nhờ sự mở cửa thương mại và nâng cao tiêu chuẩn lao động. Tuy nhiên, lĩnh vực môi trường lại bị suy giảm. Điều này cho thấy rằng Việt Nam cần phải thận trọng hơn trên con đường phát triển và duy trì lâu dài nền thương mại bền vững.

Khái niệm“kinh tế xanh” không thay thế khái niệm bền vững, nhưng nó ngày càng được công nhận là mô hình phù hợp, làm nền tảng cho phát triển bền vững. Tính bền vững là một mục tiêu dài hạn quan trọng, nhưng xanh hóa nền kinh tế là phương tiện đưa chúng ta tới đích. 

Bảo vệ môi trường không còn là vấn đề của tương lai mà là vấn đề hiện hữu. Đây là yêu cầu xuyên suốt trong quá trình phát triển. Bài học kinh nghiệm của nhiều nước trên thế giới và Việt Nam trong những năm qua cho thấy, để đạt được mục tiêu cuối cùng không chỉ dựa vào tốc độ tăng trưởng cao, mà ở sự tăng trưởng bền vững trong tương lai. Việt Nam đang phải đối mặt với các sự cố môi trường rất nghiêm trọng. Đó là hệ quả đã được nhìn thấy trước, cảnh báo trước về một mô hình phát triển thiếu bền vững. Việc trước mắt cần làm ngay là cải tổ phương thức hoạt động của các thiết chế giám sát môi trường hiện nay, trước khi mọi sự trở nên quá muộn. Sự tham gia của các tổ chức xã hội dân sự, của người dân trong giám sát môi trường phải được xem là những việc cần làm ngay. Quốc hội cần bổ sung ngay điều đó vào Luật Bảo vệ môi trường đã được thông qua. Bên cạnh đó cần cân nhắc việc thị trường hóa một phần thích hợp các dịch vụ giám sát môi trường bằng cách mở cửa cho bên giám sát độc lập thứ ba tham gia. Các công ty giám sát độc lập (hay còn gọi là kiểm toán môi trường độc lập) sẽ tham gia vào việc quan trắc và giám sát việc xả thải của bên xả thải. Chi phí phát sinh từ việc quan trắc sẽ do bên xả thải chi trả dưới cơ chế là các hợp đồng kinh tế.

Mối liên hệ giữa phát triển bền vững, tăng trưởng xanh và kinh tế xanh

Môi trường bền vững đồng nghĩa với chỗ đứng lâu dài và giá trị gia tăng của Việt Nam trong chuỗi giá trị sản xuất toàn cầu. Rất cần chú trọng tiêu chí môi trường khi lựa chọn các dự án đầu tư. Không nên cấp phép đầu tư cho các dự án, các loại hình sản xuất ô nhiễm, công nghệ sản xuất lạc hậu, nhất là dự án tiềm ẩn nguy cơ gây ô nhiễm, sự cố môi trường ở các vùng nhạy cảm. Nhiều ý kiến cho rằng tiêu chuẩn môi trường của Việt Nam là còn thấp - thể hiện yếu tố đánh đổi trong phát triển kinh tế.Tiêu chuẩn này có thể trước đây phù hợp với giai đoạn Việt Nam đang kêu gọi đầu tư. Nay chúng ta đã bước sang giai đoạn mới nên cần phải rà soát lại, đưa tiêu chuẩn môi trường lên đến mức cần thiết.

Khái niệm "tín dụng xanh" được nhiều nước áp dụng. Các ngành như hóa chất, xây dựng, năng lượng, chế biến thực phẩm, dệt may, dầu khí, xử lý chất thải, khai thác mỏ và các sản phẩm từ chất khoáng phi kim loại… cần được các ngân hàng đánh giá rủi ro môi trường, xã hội trước khi cấp tín dụng, khi đó chúng ta sẽ có thêm một công cụ phòng chống ô nhiễm từ xa để bảo vệ môi trường. Ở Việt Nam, chốt chặn này được đánh giá sẽ rất hiệu quả nếu thực hiện một cách khoa học, nghiêm túc. Bởi có một thực tế là hầu hết các doanh nghiệp đều sử dụng vốn vay ngân hàng với tỷ lệ rất lớn.

Tăng cuờng sự phối hợp quản lý biên giới, cửa khẩu để phối hợp phát hiện và xử lý các trường hợp nhập khẩu vi phạm quy định về môi trường. Hoàn thiện các thủ tục công nhận lẫn nhau về kiểm dịch giữa hai nước. Quan điểm chủ đạo là chỉ cho phép xuất khẩu những mặt hàng có hàm lượng tinh chế cao. Có chính sách nhằm đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu, để vừa khai thác các tiềm năng vừa tránh được tình trạng khai thác quá mức một số loại tài nguyên, gây cạn kiệt.

Trong giai đoạn hiện nay, xuất phát từ những cam kết quốc tế, pháp luật về bảo vệ môi trường ở nước ta cần được nghiên cứu, hoàn thiện ở một số phương diện sau đây:

 a) Xây dựng cơ chế mang tính nguyên tắc là: Buộc đánh giá tác động môi trường đối với mọi đề xuất cho bất kỳ một hoạt động nào có khả năng ảnh hưởng lớn tới môi trường thiên nhiên, trước khi chúng được thông qua. Quản lý chặt chẽ công nghệ, hàng hóa xuất, nhập khẩu có liên quan đến phát thải khí nhà kính

b) Việc áp dụng kết hợp nhiều nhóm chính sách là cần thiết để đem lại hiệu quả thực thi. Vì vậy, bên cạnh sức ép bên ngoài, cần phải tạo những sức ép bên trong mạnh mẽ từ cộng đồng xã hội, hiệp hội ngành nghề, tổ chức, đồng thời ban hành các chính sách hỗ trợ nhất định để tạo điều kiện cho doanh nghiệp cũng thu được lợi ích kinh tế từ việc đầu tư cho các dự án bảo vệ môi trường.

Tạo ra áp lực cần thiết buộc các nhà kinh doanh chỉ cung ứng các sản phẩm thân thiện với môi trường cho người tiêu dùng. Điều này sẽ có tác động lan tỏa tới các nhà sản xuất.

 Cần có cơ chế, chính sách khuyến khích tài chính đủ mạnh. Theo đó:

- Sớm ban hành những văn bản hướng dẫn cụ thể để thực thi Nghị định 130-NĐ/CP của Chính phủ về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp đầu tư cho các dự án sản xuất sạch.

- Xây dựng và thực hiện chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường như: cho doanh nghiệp vay vốn ưu đãi để thực hiện các dự án sản xuất sạch hơn; khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ cùng góp vốn đầu tư hệ thống xử lý ô nhiễm trong làng nghề, cụm công nghiệp theo phương thức Nhà nước và doanh nghiệp cùng làm. Hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ về thông tin, khả năng tiếp cận dịch vụ môi trường và nguồn nguyên liệu sạch. Trợ giúp các doanh nghiệp trong việc áp dụng/chứng chỉ phù hợp. Nhanh chóng  hình thành nguồn vốn hoặc quỹ môi trường của ngành để trợ giúp cho các doanh nghiệp nâng cao năng lực thực thi quy định và pháp luật bảo vệ môi trường.    

Hoàn thiện chính sách xuất nhập khẩu

- Có chính sách nhằm đa dạng hoá mặt hàng xuất khẩu, để vừa khai thác các tiềm năng vừa tránh được tình trạng khai thác quá mức một số loại tài nguyên, gây cạn kiệt.

- Rà soát danh mục hàng hóa nhập khẩu thuộc diện quản lý chuyên ngành với các quy định về điều kiện kỹ thuật chặt chẽ, trong đó quy định trách nhiệm cụ thể cho từng Bộ, ngành và công bố công khai thời hạn áp dụng.

- Kết hợp thuế bảo vệ môi trường vào hệ thống thuế nhập khẩu. Việc áp dụng thuế bảo vệ môi trường đối với hàng nhập khẩu sẽ đạt được nhiều mục tiêu: bảo vệ môi trường, bảo hộ sản xuất, tăng thu ngân sách nhà nước… Điều này không trái với nguyên tắc của WTO, mà về một ý nghĩa nào đó còn được dư luận xã hội ủng hộ.

- Khuyến khích nhập khẩu máy móc, thiết bị có công nghệ tiên tiến (kết hợp xem xét với yêu cầu của công nghệ xanh). Hạn chế nhập khẩu thiết bị, công nghệ trung gian. Đây là một chính sách quan trọng, nhằm ngăn chặn dòng thương mại và thiết bị - công nghệ cũ và lạc hậu đổ vào nước ta, và theo đó là sự tiêu tốn tài nguyên, phát thải các chất độc làm tổn hại đến môi trường sinh thái.

- Thử nghiệm đấu giá các giấy phép nhậu khẩu đối với những hàng hoá gây ảnh hưởng lớn đến môi trường sinh thái. Đây là chính sách cần thiết có tác động điều chỉnh trực tiếp đối với các sản phẩm gây hại đến môi trường, phát thải các chất gây hiệu ứng nhà kính, làm thủng tầng ô - zôn (như ô tô bốn chỗ ngồi, các hoá chất có gốc CFC,...), thông qua đó số tiền mà Nhà nước  thu được để lập quỹ bảo vệ môi trường;

Xây dựng một chính sách tiêu dùng hợp lý, khoa học. Cần phải xem hướng dẫn tiêu dùng như là một bộ phận trong giáo dục lối sống của cộng đồng để đạt đến sự phát triển bền vững. Một chính sách tiêu dùng hợp lý, được chấp nhận sẽ góp phần sử dụng có khoa học các tài nguyên thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về quyền lợi và trách nhiệm của người tiêu dùng đối với mọi hàng hoá lưu thông trên thị trường  tạo ra sức ép buộc các nhà sản xuất phải tuân tbủ đúng tiêu chuẩn về chất lượng đối với sản phẩm của mình. Tiêu dùng có văn hoá và mang tính nhân bản là tiêu dùng không chỉ cho hôm nay còn nghĩ đến tương lai của thế hệ mai sau. 

Không thể có kinh tế thị trường nếu không tiến hành tự do hoá thương mại. Trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào có thể tồn tại và phát triển mà không chịu sự tác động của những quan hệ mang tính tổng hợp, khu vực và toàn cầu.Trong bối cảnh ấy việc sửa đổi, bổ sung các pháp luật có liên quan, hoàn thiện và hoà hợp các chính sách, cơ chế nhằm thúc đẩy tự do hoá thương mại với các chính sách môi trường sẽ là một giải pháp hữu hiệu để đảm bảo sự tăng trưởng và phát triển thương mại một cách bền vững./.

Tài liệu tham khảo

1. website: www.hinrichfoundation.com

2. Báo cáo của The Economist Intelligence Unit 2018

Vũ Huy Hùng

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC