Trang chủ >> Tin tức >> Chiến lược - Chính sách

Đánh giá hoạt động ngành Công Thương năm 2020 của tỉnh Bắc Giang

Năm 2020 là năm về đích thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và Nghị quyết của HĐND tỉnh về kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2016- 2021. Tình hình kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Giang cũng như các địa phương trong cả nước chịu ảnh hưởng nặng nề do dịch Covid-19.

Tuy nhiên, vớisự chỉ đạo quyết liệt trong phòng chống dịch Covid-19 từ trung ương đến địa phương, dịch bệnh Covid-19 hai lần bùng phát ở nước ta đã được kiểm soát. Tuy ảnh hưởng của dịch covid là rất nặng nề, dịch bệnh vẫn còn diễn biến phức tạp ở nhiều nước trên toàn thế giới, nền kinh tế chưa thể hoàn toàn hồi phục nhưng tỉnh Bắc Giang đã xác định cuộc chiến chống Covid-19 là cuộc chiến lâu dài nên Tỉnh ủy, UBND tỉnh và các doanh nghiệp trong tỉnh cũng đã và đang tiến hành nhiều giải pháp để vừa đảm bảo an toàn cho người lao động vừa duy trì, phát triển hoạt động sản xuất và tiêu thụ sản phẩm trong tình hình mới. Kết quả hoạt động của ngành Công Thương  trong năm 2020  như sau:

I.Kết quả sản xuất ngành Công Thương

1.Về sản xuất công nghiệp : Nhìn chung tình hình sản xuất công nghiệp tỉnh Bắc Giang năm 2020 có mức tăng trưởng khá so với cùng kỳ. Chỉ số sản xuất công nghiệp toàn ngành năm 2020 dự tính tăng 20% so với cùng kỳ. Trong đó so với cùng kỳ năm 2019: ngành khai khoáng tăng 1,6%; ngành công nghiệp chế biến chế tạo tăng 20,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hoà không khí  tăng 22%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%. 

 Giá trị sản xuất công nghiệp (theo giá hiện hành) năm 2020 ước đạt 272.435 tỷ đồng, tăng 24,8% so với năm 2019, bằng 99% kế hoạch. Theo thành phần kinh tế, khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng cao nhất đạt 28,6%, chiếm 86% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh; khu vực doanh nghiệp nhà nước tăng 9%, khu vực ngoài nhà nước tăng 4,7%. Theo các ngành kinh tế, ngành chế biến, chế tạo có mức tăng cao nhất (chiếm tỷ trọng 98,1%) tăng 25,1%; tiếp đến là ngành sản xuất và phân phối điện tăng 23,5%; ngành cung cấp nước, quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5%; ngành khai khoáng tăng 3,8%.

 2.Về hoạt động khuyến công đã có tác động tích cực đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhất là các cơ sở công nghiệp nông thôn (CSCNNT). Công tác hỗ trợ doanh nghiệp được thực hiện hiệu quả, giúp 10 CSCNNT mạnh dạn vay vốn để đầu tư công nghệ, thiết bị mới, sản xuất sản phẩm mới; giảm bớt khó khăn về đào tạo và tuyển dụng lao động; nâng cao năng lực quản lý; quảng bá hình ảnh, tiếp thị, tìm kiếm thị trường, đối tác kinh doanh...

- Về thực hiện kế hoạch khuyến công quốc gia: Năm 2020, tỉnh Bắc Giang được Bộ trưởng Bộ Công Thương phê duyệt thực hiện 3 đề án khuyến công quốc gia để hỗ trợ kinh phí cho 7 CSCNNT trên địa bàn, kinh phí hỗ trợ là 2.100 triệu đồng, gồm có: 01 Đề án “Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến trong sản xuất các sản phẩm cơ khí” cho 03 doanh nghiệp, tổng kinh phí hỗ trợ 900 triệu đồng; 01 Đề án “Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến trong sản xuất bao bì đóng gói sản phẩm” cho 02 doanh nghiệp, tổng kinh phí hỗ trợ 600 triệu đồng; 01 Đề án “Hỗ trợ ứng dụng máy móc thiết bị tiên tiến trong sản xuất mỳ gạo” cho 02 doanh nghiệp, tổng kinh phí hỗ trợ 600 triệu đồng. Tính đến nay, Sở Công Thương tổ chức triển khai các nội dung hỗ trợ đến các đơn vị thụ hưởng và nghiệm thu hoàn thành các đề án trong năm 2020.

- Về thực hiện kế hoạch khuyến công địa phương:Nguồn kinh phí dành cho hoạt động khuyến công tỉnh năm 2020 là 4.500  triệu đồng để hỗ trợ thực hiện cho 26 đề án. Đến nay, Sở Công Thương đã tổ chức nghiệm thu hoàn thành được 26 đề án (đạt 100%). Trong đó, hỗ trợ 15 đề án xây dựng mô hình trình diễn kỹ thuật, chuyển giao công nghệ, ứng dụng máy móc tiên tiến, tiến bộ khoa học kỹ thuật; 03 đề án thuộc nội dung hỗ trợ phát triển sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu; nâng cao năng lực quản lý doanh nghiệp, nhận thức và năng lực áp dụng sản xuất sạch hơn trong công nghiệp; 04 đề án thuộc nội dung tư vấn, trợ giúp cơ sở công nghiệp nông thôn; 02 đề án thuộc nội dung cung cấp thông tin và 02 đề án thuộc nội dung nâng cao năng lực quản lý và tổ chức thực hiện chương trình khuyến công.

3.Về thương mại nội địa: GTSX dịch vụ (theo giá hiện hành) năm 2020 ước đạt 39.947 tỷ đồng, tăng 1,5% so với cùng kỳ, đạt 89,2% kế hoạch năm 2020. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ ước đạt 29.362 tỷ đồng, giảm 0,1%, đạt 89,5% kế hoạch. Tổng mức bán lẻ hàng hóa và dịch vụ năm 2020 giảm nhẹ so với cùng kỳ năm 2019 là do ảnh hưởng của dịch bệnh Covid - 19 hai lần bùng phát ở nước ta.

Tổng mức bán lẻ hàng hóa tăng không đáng kể so với cùng kỳ năm 2019 là do mức tiêu dùng trong dân cư của một số đối lượng lao động bị giảm thu nhập do dịch bệnh dẫn tới tiêu dùng giảm. Trong khi đó doanh thu dịch vụ giảm so với cùng kỳ năm 2019 chính sách giãn cách xã hội để phòng chống dịch bệnh dẫn tới doanh thu dịch vụ ăn uống, lưu trú cũng như các dịch vụ khác giảm.

4.Về hoạt động xuất, nhập khẩu : Giá trị xuất khẩu ước đạt 11,2 tỷ USD, tăng 50,2% so năm 2019, vượt 18% kế hoạch; nhập khẩu đạt 10,6 tỷ USD, tăng 51,5%, vượt 15% kế hoạch. Các đối tác thương mại chính của các doanh nghiệp trong tỉnh là: Trung Quốc, Hàn Quốc, Mỹ, Ấn Độ, Tây Ban Nha, Đài Loan, Nhật Bản…

5.Về hoạt động xúc tiến thương mại: Trước diễn biến phức tạp của dịch Covid-19 có thể ảnh hưởng đến việc tiêu thụ vải thiều, ngay từ đầu năm, Sở Công Thương đã chủ động tham mưu cho UBND tỉnh xây dựng các kịch bản tiêu thụ vải tương ứng với các mức độ kiểm soát 11 dịch bệnh; tiến hành tổng hợp thời gian, sản lượng thu hoạch cho từng trà vải để phân bổ cho từng phân khúc thị trường tương ứng gắn với các kịch bản diễn biến của dịch bệnh Covid 19; xây dựng 03 phương án cụ thể để chủ động triển khai, sẵn sàng kích hoạt cả 03 kịch bản, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho người dân sản xuất vải thiều tiêu thụ được sản phẩm, với phương châm đồng hành cùng nông dân trong sản xuất tiêu thụ vải thiều và các sản phẩm nông sản khác của tỉnh. Sở Công Thương đã tham mưu cho UBND tỉnh tổ chức thành công các Hội nghị trực tuyến xúc tiến tiêu thụ vải thiều và các sản phẩm nông sản chủ lực tỉnh Bắc Giang với Singapore, đặc biệt là Hội nghị trực tuyến xúc tiến tiêu thụ vải thiều năm 2020 với 62 điểm cầu trong nước và 04 điểm cầu quốc tế, thu hút hơn 2.300 đại biểu, được phát trực tiếp trên Đài Phát thanh Truyền hình tỉnh Bắc Giang; chuyển tiếp trên các kênh sóng phát thanh, Truyền hình một số tỉnh, thành phố; các trang fanpage, các đường link của cơ quan truyền thông, thông tấn, báo chí; đây là hội nghị có quy mô và sức lan tỏa lớn nhất từ trước đến nay; là sự kiện hết sức đặc sắc, mang tính thương hiệu, biểu tượng riêng, thể hiện tính tiên phong, khác biệt của tỉnh Bắc Giang, tạo ra hình ảnh năng động của địa phương trong bối cảnh khó khăn do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19. Tại đây, tỉnh Bắc Giang đã nhận được quan tâm của Trung ương, các tỉnh, thành phố trong cả nước, chính quyền và các cơ quan chức năng tỉnh Vân Nam, Quảng Tây (Trung Quốc), các doanh nghiệp, thương nhân kinh doanh nông sản nói chung và vải thiều nói riêng cả trong và ngoài nước. Hội nghị vinh dự được Thủ tướng Chính phủ tham dự cắt băng xuất hành “Đoàn xe vải thiều tiêu thụ tại thị trường trong nước và quốc tế”. Kết thúc Hội nghị tỉnh Bắc Giang được tỉnh Vân Nam đánh giá cao sự sáng tạo, linh hoạt về tổ chức hoạt động xúc tiến thương mại trong bối cảnh khó khăn hiện nay, cho rằng thành công của Hội nghị có tác dụng dẫn dắt và hình mẫu để tỉnh Vân Nam và Bắc Giang triển khai các hoạt động xúc tiến thương mại, kết nối doanh nghiệp trong thời gian tới, thúc đẩy quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại giữa Vân Nam - Bắc Giang nói chung và tiêu thụ vải thiều nói riêng. Phối hợp với UBND huyện Lục Ngạn và các doanh nghiệp tổ chức các hoạt động xúc tiến tiêu thụ vải thiều ở thị trường trong nước; Tổ chức các hoạt động tuyên truyền, quảng bá, giới thiệu sản phẩm vải thiều Lục Ngạn – Bắc Giang tới các cơ quan Trung ương và một số tỉnh, thành phố.

Năm nay, thị trường Trung Quốc vẫn là thị trường truyền thống và có quan hệ hợp tác nhiều năm với tỉnh Bắc Giang. Đặc biệt năm nay, tỉnh đã trú trọng tới việc đăng ký mã vùng trồng, mã cơ sở đóng gói và tem truy xuất nguồn gốc... để xuất khẩu theo chương trình hợp tác chính ngạch. Hiện nay có 18 mã vùng được Bộ Nông nghiệp Hoa kỳ cấp tại 7 xã, Trung Quốc cũng đã cấp 36 mã số vùng trồng vải thiều Lục Ngạn đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu vào thị trường này cho 29 xã, thị trấn. Đây là tiền đề cho trái vải thiều Lục Ngạn có mặt ở nhiều thị trường lớn trên thế giới. Năm 2020, tổng sản lượng vải thiều toàn tỉnh đạt 164.700 tấn, tăng gần 15.000 tấn so với năm 2019, trong đó: tổng sản lượng tiêu thụ nội địa đạt 86.500 tấn, chiếm 52,5%; sản lượng xuất khẩu đạt 78.200 tấn, chiếm 47,5% tổng sản lượng tiêu thụ. Tổng giá trị từ vải thiều và các dịch vụ phụ trợ ước đạt 6.830 tỷ đồng (tăng gần 500 tỷ đồng so với năm 2019).

Sở Công Thương đã phối hợp với các cơ quan liên quan của Bộ Công Thương tổ chức các hoạt động thông tin quảng bá trên cổng thông tin “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” (duy trì banner trên trang điện tử http://www.tuhaoviet.vn); Quảng bá sàn giao dịch thương mại điện tử tỉnh Bắc Giang trên trang chủ của nhịp cầu kinh doanh Á - Âu, Asemconect Việt Nam (trang kết nối với Bộ Công Thương các nước) nhằm hỗ trợ hàng hóa của các doanh nghiệp Bắc Giang thâm nhập thị trường trong nước và từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu mới.

II. Đánh giá chung hoạt động ngành Công Thương

1.Kết quả đạt được

- Chủ động, tích cực bám sát chương trình, kế hoạch của UBND tỉnh và nhiệm vụ được Bộ Công Thương, UBND tỉnh giao; công tác tham mưu đề xuất với Tỉnh uỷ, HĐND và UBND tỉnh xây dựng các cơ chế, chính sách trong hoạt động, quản lý ngành Công Thương đảm bảo chất lượng, đúng thời gian quy định.  

- Công tác phối hợp thực hiện quản lý nhà nước về công thương, tổ chức hướng dẫn chính sách, pháp luật, quy hoạch, định hướng phát triển, thanh kiểm tra được tăng cường.

- Hoạt động sản xuất công nghiệp trên địa bàn tỉnh đạt mức tăng trưởng khá, cơ cấu ngành công nghiệp tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, tăng tỷ trọng ngành công nghiệp chế biến, chế tạo, giảm tỷ trọng ngành công nghiệp khai thác. Hạ tầng cụm công nghiệp được quan tâm đầu tư do thu hút được nhiều doanh nghiệp đầu tư kinh doanh hạ tầng (28/45 CCN có chủ đầu tư kinh doanh hạ tầng là doanh nghiệp).

- Công tác quản lý nhà nước có nhiều chuyển biến tích cực, các hoạt động đều hướng về doanh nghiệp, đồng hành cùng doanh nghiệp, tích cực thực hiện cải cách hành chính, tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và các hoạt động sản xuất kinh doanh; chủ động kết nối các doanh nghiệp với doanh nghiệp và doanh nghiệp với tổ hợp tác, HTX sản xuất nông nghiệp, doanh nghiệp để tạo vùng nguyên liệu ổn định cho chuỗi sản xuất chế biến và xuất khẩu.

- Hoạt động xúc tiến thương mại chủ động, linh hoạt và sáng tạo đạt hiệu quả cao trong tình hình dịch bệnh, nhiều đoàn doanh nghiệp lớn trong nước và nước ngoài đến tìm hiểu cơ hội hợp tác đầu tư, đã mở ra nhiều nhiều triển vọng phát triển trong thời gian tới.

- Kết cấu hạ tầng thương mại từng bước được hoàn thiện, nhiều chợ được đầu tư nâng cấp mở rộng, các trung tâm thương mại, siêu thị lớn đã và đang từng bước được đầu tư đáp ứng cho nhu cầu sản xuất kinh doanh và tiêu dùng trong nhân dân theo hướng văn minh, hiện đại và bền vững.

- Hoạt động khuyến công ngày càng đi vào chiều sâu, đã tác động tích cực đến các doanh nghiệp và cơ sở sản xuất trong việc tiếp cận với các quy trình, công nghệ mới để từng bước nâng cao được năng suất, nâng cao giá trị gia tăng và hàm lượng công nghệ của sản phẩm, giảm thiểu ô nhiễm môi trường.

2.Tồn tại hạn chế

- Đối với các KCN, CCN: Công tác tập trung hỗ trợ trong việc giải phóng mặt bằng còn chưa hiệu quả nhất là ở các huyện Việt Yên, Yên Dũng, Hiệp Hòa và thành phố Bắc Giang. Hạ tầng nhiều khu công nghiệp chậm được đầu tư hoàn chỉnh, đồng bộ. Các dự án gặp nhiều khó khăn trong quá trình thực hiện, đặc biệt là khâu bồi thường, giải phóng mặt bằng tiếp cận đất đai để có mặt bằng thực hiện dự án.

- Do ảnh hưởng của dịch Covid 19 nên hoạt động SXKD của các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh bị ảnh hưởng, đóng góp vào tăng trưởng của công nghiệp chế biến chế tạo trong toàn ngành công nghiệp giảm so với cùng kỳ. Mức độ liên kết và hợp tác giữa các doanh nghiệp trong cùng một ngành và giữa các ngành còn hạn chế làm giảm nội lực và tăng chi phí sản xuất. Kim ngạch xuất nhập khẩu vượt kế hoạch đề ra nhưng cũng bị ảnh hưởng, nhất là các sản phẩm nông sản xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc.

- Cung cầu hàng hóa về cơ bản được bảo đảm nhưng vấn có những biến động do mất cân đối (giá thịt lợn vẫn ở mức cao, một số mặt hàng nông sản bị giảm giá khi vào vụ thu hoạch rộ), thiếu sự liên kết giữa các bên trong chuỗi cung ứng sản xuất nên thị trường dễ biến động do tác động của tâm lý người tiêu dùng.

- Hoạt động khuyến công, xúc tiến thương mại quy mô nhỏ, đối tượng thụ hưởng từ nguồn kinh phí khuyến công còn hạn chế, nhất là ở các huyện miền núi; Kinh phí hỗ trợ cho các đề án khuyến công, cho hoạt động XTTM còn ít so với mức đầu tư của các đơn vị.

- Đã thực hiện phân cấp quản lý các cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm cho cấp huyện, cấp xã. Tuy nhiên cán bộ công chức còn kiêm nhiệm nên việc quản lý các cơ sở nhỏ lẻ gặp nhiều khó khăn.

- Nhận thức của một số bộ phận lao động, doanh nghiệp, người dân về bản chất, lợi ích của ứng dụng thương mại điện tử chưa đầy đủ. Thói quen mua hàng tại các chợ truyền thống và thanh toán dùng tiền mặt của người dân là một trong những cản trở lớn đối với quá trình hội nhập và phát triển thương mại điện tử./.

Nguồn: Báo cáo của SCT Bắc Giang số 312 ngày 31/12/2020

Đỗ Thị Bích Thủy

Phòng Thông tin, Thư  viện  và Xúc tiến Thương mại - VIOIT

TIN KHÁC CÙNG LOẠI