TIN TỨC

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Tin tức

Ngành Công Thương Phú Thọ quyết tâm hoàn thành mục tiêu trong giai đoạn Covid-19

Đại dịch Covid-19 đã tác động tiêu cực, sâu rộng đến tất cả các hoạt động của đời sống kinh tế - xã hội của tỉnh Phú Thọ, nhiều doanh nghiệp phải cắt giảm sản xuất, thị trường suy giảm... Trong bối cảnh đó, với sự đồng lòng, chung sức của các tầng lớp nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp, tỉnh đã kịp thời triển khai các nhóm nhiệm vụ, giải pháp, chính sách thiết thực, cụ thể với quyết tâm cao, đồng thời tháo gỡ khó khăn cho sản xuất - kinh doanh, hỗ trợ người lao động mất, thiếu việc làm… nhờ đó, dịch bệnh trên địa bàn được kiểm soát tốt, không xảy ra lây lan trong cộng đồng, hoạt động sản xuất công nghiệp- thương mại cơ bản được duy trì ổn định.

Về sản xuất công nghiệp:

Việc thực hiện tốt công tác phòng dịch đã giúp hoạt động sản xuất ở các khu công nghiệp trên địa bàn tỉnh được đảm bảo, sản xuất tăng trưởng mạnh so với tháng cùng kỳ, IIP đạt mức 9,12%, trong đó ngành công nghiệp chế biến, chế tạo vẫn giữ vai trò chủ đạo tăng 8,81%. Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) tháng 8 năm 2021 ước tính tăng 13,02% so với tháng trước, đóng góp vào IIP tăng cao trong đó có ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 14,16%; ngành sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học có thêm sản phẩm mới. Ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,22%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 7,14%. Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng hơn 2 lần; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 73,26%; sản xuất thiết bị điện tăng 11,61%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 9,89%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 7,81%; dệt tăng 5,92%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 4,33%;...

Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng so với tháng cùng kỳ năm 2020 do đóng góp của các ngành công nghiệp cấp 2 như: Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 6,6 lần; in, sao chép bản ghi các loại tăng 83,91%; sản xuất thiết bị điện tăng 56,25%; dệt tăng 29,68%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 23,55%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 23,34%; sản xuất đồ uống tăng 19,25%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,95%; sản xuất trang phục tăng 7,54%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 3,45%;…

Sau 8 tháng năm 2021, IIP tăng cao so với cùng kỳ năm trước, trong đó, ngành công nghiệp khai khoáng tăng 11,06%; ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tăng 7,43%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 14,74%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,97%. Chế biến gỗ và sản xuất sản phẩm từ gỗ, tre, nứa, sản xuất sản phẩm từ rơm, rạ và vật liệu tết bện tăng 3,7 lần; in, sao chép bản ghi các loại tăng 2,8 lần; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 52,5%; sản xuất xe có động cơ tăng 36,2%; sản xuất trang phục tăng 31,07%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 23,12%; dệt tăng 19,67%; sản xuất da và các sản phẩm có liên quan tăng 15,63%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 10,77%; sản xuất thiết bị điện tăng 10,03%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 1,28%;...

Ngoài những ngành có chỉ số tăng cao, công nghiệp Phú Thọ vẫn có một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu tăng thấp hoặc giảm sâu so với cùng kỳ năm 2020 như: sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất giảm 50,73%; in, sao chép bản ghi các loại giảm 43,58%; sửa chữa, bảo dưỡng và lắp đặt máy móc và thiết bị giảm 34,25%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) giảm 23,08%; sản xuất xe có động cơ giảm 17,08%; sản xuất chế biến thực phẩm giảm 13,05%; ngành công nghiệp khai khoáng giảm 10,79%... nguyên nhân là do tỉnh phải thực hiện giãn cách làm hạn chế việc nhập cảnh của các chuyên gia và lao động tỉnh ngoài vào làm việc.

Về các khu, cụm công nghiệp:

Trên địa bàn tỉnh đã được Chính phủ phê duyệt quy hoạch 7 khu công nghiệp tập trung và 28 cụm công nghiệp với diện tích là 1.100 ha. Tính đến nay, toàn tỉnh đã có 21 cụm công nghiệp được thành lập và đi vào hoạt động với tổng diện tích 1.076 ha với tổng nguồn vốn đã huy động đầu tư kết cấu hạ tầng khu công nghiệp, cụm công nghiệp đạt 1.197.422 triệu đồng. Tỉnh đã tích cực thu hút, lựa chọn các nhà đầu tư, các dự án đầu tư có công nghệ hiện đại, hiệu quả kinh tế cao, thân thiện với môi trường đầu tư vào tỉnh. Mặc dù chịu ảnh hưởng của dịch Covid-19 nhưng các doanh nghiệp trong các khu công nghiệp, cụm công nghiệp vẫn nỗ lực duy trì, ổn định hoạt động sản xuất; giải quyết việc làm cho khoảng 60.000 lao động với thu nhập bình quân 6,8 triệu đồng/người/tháng.

Về thương mại, dịch vụ, giá cả:

Theo công điện số 3/CĐ-CT ngày 3/8/2021 của Ủy ban nhân dân tỉnh từ 0h00 ngày 4/8/2021, tạm dừng các hoạt động không thiết yếu cho đến khi có thông báo mới. Do đó hoạt động thương mại, dịch vụ trên địa bàn tỉnh chịu ảnh hưởng tiêu cực từ diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, sức mua trên thị trường không cao, hầu hết doanh thu các mặt hàng trong tháng đều giảm so với cùng kỳ, nhất là các mặt hàng thiết yếu.

Tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng tháng 8/2021 ước đạt 2.931,5 tỷ đồng, giảm 3,8% so với cùng kỳ năm 2020. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 2.643,3 tỷ đồng, chiếm 90,2% tổng mức, tăng 5,2%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 82,7 tỷ đồng, chiếm 2,8% tổng mức, giảm 68,3%; doanh thu dịch vụ và du lịch ước đạt 205,5 tỷ đồng, chiếm 7% tổng mức giảm 25,1% so với cùng kỳ; Doanh thu bán lẻ trong tháng giảm so với cùng kỳ do 8/12 các nhóm hàng được thống kê thường xuyên giảm gồm ô tô con (dưới 9 chỗ giảm 4,8%,) đồ dùng, dụng cụ, trang thiết bị gia đình giảm 3,9%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) giảm 3,1%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác giảm 2,6%; hàng may mặc giảm 1,5%; hàng hoá khác giảm 0,3%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm đá quý, kim loại quý giảm 0,3%;… Tuy nhiên sau 8 tháng, bán lẻ vẫn tăng ở mức khá, đạt 9,7%, trong đó các nhóm có mức tăng cao như: Xăng, dầu các loại tăng 18,3%; đá quý, kim loại quý và sản phẩm tăng 11,7%; nhiên liệu khác (trừ xăng dầu) tăng 10,9%; phương tiện đi lại, trừ ô tô con (kể cả phụ tùng) tăng 10,9%; lương thực, thực phẩm tăng 9,9%; doanh thu dịch vụ sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác tăng 8,5%; gỗ và vật liệu xây dựng tăng 7,5%; ô tô con (dưới 9 chỗ ngồi) tăng 6,4%; hàng may mặc tăng 5,6%;...

Tính chung 8 tháng, tổng mức bán lẻ hàng hoá và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 24.418,7 tỷ đồng, tăng 7,3% so với cùng kỳ. Trong đó, doanh thu bán lẻ ước đạt 21.179,4 tỷ đồng, chiếm 86,7% tổng mức, tăng 9,7%; doanh thu dịch vụ lưu trú, ăn uống ước đạt 1.392,6 tỷ đồng, chiếm 5,7% tổng mức, giảm 9,7%; doanh thu dịch vụ và du lịch ước đạt 1.846,7 tỷ đồng, chiếm 7,6% tổng mức, giảm 3,7%;...

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 8/2021 giảm 0,41% so với tháng trước, tăng 0,79% so với tháng 12 năm trước (sau 8 tháng) và tăng 0,08% so với tháng cùng kỳ năm trước. Các nhân tố giúp kiềm chế CPI tháng này so với tháng trước bao gồm: văn hoá, giải trí và du lịch giảm 1,18%, đóng góp giảm 0,05% CPI (nhóm hàng văn hóa giảm 1,71%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,9%, đóng góp giảm 0,26% CPI, nguyên nhân chủ yếu do giá thịt lợn giảm 5,61% làm cho chỉ số chung của mặt hàng thực phẩm trong nhóm này giảm tới 1,25%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,70%, đóng góp giảm 0,11% CPI (nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu giảm 2,61%; vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 0,64%; dịch vụ sửa chữa nhà ở giảm 0,27%); may mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,6% (may mặc giảm 0,65%; may mặc khác và mũ nón giảm 0,55%; giầy dép giảm 0,45%; dịch vụ may mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,29%); đồ uống và thuốc lá giảm 0,33%, chủ yếu do nhóm đồ uống không cồn giảm 1,33%; hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,23% (hàng hóa và dịch vụ cho cá nhân giảm 0,34%;

Các nhân tố giúp kiềm chế CPI tháng này so với tháng trước bao gồm: văn hoá, giải trí và du lịch giảm 1,18%, đóng góp giảm 0,05% CPI (nhóm hàng văn hóa giảm 1,71%); hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 0,9%, đóng góp giảm 0,26% CPI, nguyên nhân chủ yếu do giá thịt lợn giảm 5,61% làm cho chỉ số chung của mặt hàng thực phẩm trong nhóm này giảm tới 1,25%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,70%, đóng góp giảm 0,11% CPI (nhà ở thuê và nhà chủ sở hữu giảm 2,61%; vật liệu bảo dưỡng nhà ở giảm 0,64%; dịch vụ sửa chữa nhà ở giảm 0,27%); %); may mặc, mũ nón, giầy dép giảm 0,6% (may mặc giảm 0,65%; may mặc khác và mũ nón giảm 0,55%; giầy dép giảm 0,45%; dịch vụ may mặc, mũ nón và giầy dép giảm 0,29%); đồ uống và thuốc lá giảm 0,33%, chủ yếu do nhóm đồ uống không cồn giảm 1,33%; hàng hoá và dịch vụ khác giảm 0,23% (hàng hóa và dịch vụ cho cá nhân giảm 0,34%; dịch vụ hiếu hỉ giảm 0,28%); thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 0,07% (thiết bị dùng trong gia đình giảm 0,98%); bưu chính viễn thông giảm 0,01%;... Các nhóm còn lại có chỉ số tăng gồm: giáo dục tăng 0,36%; giao thông tăng 0,24%; thuốc và dịch vụ y tế tăng 0,13%;...

Sau 8 tháng năm 2021, CPI bình quân  giảm 0,50% so với cùng kỳ, nguyên nhân do tác động từ các nhóm: Hàng ăn và dịch vụ ăn uống giảm 3,89%; bưu chính viễn thông giảm 1,98%; văn hoá, giải trí và du lịch giảm 1,56%; thiết bị và đồ dùng gia đình giảm 1,33%; nhà ở, điện, nước, chất đốt và vật liệu xây dựng giảm 0,51%;…

Về xuất, nhập khẩu hàng hóa:

Kim ngạch xuất khẩu tháng 8 năm 2021 ước đạt 709 triệu USD, so với tháng trước, ước tăng 5,0%, cộng dồn 8 tháng ước đạt 4.629,4 triệu USD, so với cùng kỳ năm 2020 tăng 70,5%; đạt 103% kế hoạch năm (Kế hoạch năm 4.500 triệu USD).Mặt hàng xuất khẩu chủ yếu: Vải bạt, túi PP, quần áo các loại, linh kiện điện tử, chè, gạch men…; Thị trường chủ yếu: Hàn Quốc, Mỹ, Canada, Ấn Độ, Israel, Italy…

Kim ngạch nhập khẩu tháng 8 năm 2021 ước đạt 806,7 triệu USD, so với tháng trước đạt 105%; cộng dồn 8 tháng ước đạt 4.783,1 triệu USD, so cùng kỳ năm 2020 tăng 85,1%; đạt 113,9% kế hoạch năm (Kế hoạch năm 4.200 triệu USD). Mặt hàng nhập khẩu chủ yếu là các nguyên phụ liệu ngành may, da giày…; Thị trường chủ yếu: Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật,…

Phương hướng kế hoạch thời gian tới

Nhằm duy trì và phát huy những thành tựu đạt được trong thời gian tới, ngành Công thương Phú Thọ tiếp tục tập trung làm tốt chức năng, nhiệm vụ được giao, chủ động trong công tác tham mưu cho tỉnh xây dựng các phương án quy hoạch và đề xuất cơ chế chính sách nhằm khuyến khích phát triển công nghiệp, thương mại trên địa bàn. Tỷ trọng công nghiệp - xây dựng đạt 40 - 41%, tỷ lệ lấp đầy bình quân các khu công nghiệp đạt 75-80%; các cụm công nghiệp có chủ đầu tư hạ tầng kỹ thuật đạt 60-70%. Phát triển các loại hình thương mại, các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao để trở thành ngành kinh tế quan trọng, đóng góp lớn vào quy mô và tốc độ tăng trưởng kinh tế.
Để đạt được mục tiêu trên, ngành Công Thương Phú Thọ tập trung triển khai thực hiện tốt công tác lập quy hoạch tỉnh Phú Thọ giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Rà soát, dự báo và đề ra phương án cho phát triển công nghiệp, thương mại, điện lực; phát triển các khu, cụm công nghiệp và các định hướng phát triển của ngành. Chú trọng phân bố không gian và chuyển dịch cơ cấu lĩnh vực ngành đáp ứng nhu cầu phát triển. Tạo lập chính sách phát triển các ngành công nghiệp ưu tiên, khuyến khích đầu tư phát triển các sản phẩm mới, giá trị gia tăng cao. Cùng với đó, xây dựng hệ thống chính sách ưu đãi, thông thoáng gắn với công tác tuyên truyền, xúc tiến đầu tư để đẩy mạnh thu hút nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp trong và ngoài nước tham gia đầu tư vào phát triển công nghiệp - thương mại phù hợp các cơ chế chính sách của Trung ương ban hành, kết hợp với cơ chế, chính sách của tỉnh để tạo ra các cơ chế, chính sách riêng, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư đến với tỉnh.

Tập trung phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là nguồn nhân lực phục vụ cho các ngành ưu tiên phát triển của tỉnh; xây dựng phương án hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực cho doanh nghiệp đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa, đặc biệt là yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0.

Chú trọng đổi mới công nghệ hiện đại nhằm nâng cao chất lượng và khả năng cạnh tranh của các sản phẩm công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp. Tiếp tục đẩy mạnh công tác Hội nhập kinh tế quốc tế nhằm thúc đẩy tăng trưởng thị trường xuất khẩu, nhập khẩu; tập trung phát triển thương mại nội địa, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin thông qua môi trường thương mại điện tử và các nền tảng công nghệ số thúc đẩy phát triển mạnh thị trường trong nước và xuất khẩu./.

Ngô Mai Hương

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại - VIOIT

TIN KHÁC