TIN TỨC

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Tin tức

Chương trình phát triển các ngành công nghiệp chủ lực tỉnh Bến Tre giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XI, nhiệm kỳ 2020 - 2025, Tỉnh ủy Bến Tre đã ban hành Chương trình số 08-Ctr/TU ngày 29/01/2021 về phát triển công nghiệp chủ lực, lực lượng doanh nghiệp của tỉnh giai đoạn 2020 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030 với những nội dung chủ yếu về phát triển ngành công nghiệp chủ lực như sau:

1. Tình hình phát triển các ngành công nghiệp chủ lực trên địa bàn tỉnh

1.1. Ngành sản xuất chế biến dừa:

Bến Tre có diện tích dừa lớn nhất cả nước, cũng là cây trồng chủ lực và thích ứng tốt với biến đổi khí hậu của tỉnh, diện tích khoảng 73.000 ha. Trên địa bàn tỉnh có khoảng 182 doanh nghiệp chế biến các sản phẩm từ dừa, chiếm 28,57% tổng số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của tỉnh. Trong những năm gần đây, đã thu hút nhiều doanh nghiệp đầu tư sản xuất chế biến với quy mô lớn, công nghệ hiện đại, sản phẩm đa dạng, giá trị gia tăng cao. Giá trị sản xuất của ngành chế biến dừa tăng bình quân 18,66%/năm giai đoạn 2016 - 2020, năm 2020 chiếm tỷ trọng 17,66% so với giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, chiếm 3,27% GRDP toàn tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu dừa tăng bình quân 13,6%/năm giai đoạn 2016 - 2020, năm 2020 chiếm tỷ trọng 24,57% so với kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.

1.2. Ngành sản xuất chế biến thủy sản:

Bến Tre có điều kiện tự nhiên khá thuận lợi để phát triển nguồn nguyên liệu thủy sản, với khoảng 45.000 ha nuôi trồng thủy sản, trong đó 11.000 ha nuôi tôm biến công nghiệp và 2.115 tàu đánh bắt thủy sản xa bờ; tổng sản lượng khai thác và nuôi trồng thủy sản hàng năm khoảng trên 500 ngàn tấn. Trên địa bàn tỉnh có khoảng 38 doanh nghiệp chế biến thủy sản các loại, chiếm 5,97% tổng số doanh nghiệp sản xuất công nghiệp của tỉnh. Các doanh nghiệp, cơ sở nuôi trồng thủy hải sản ngày càng quan tâm đầu tư áp dụng các tiêu chuẩn chất lượng, đảm bảo sản xuất theo hướng an toàn môi trường, dịch bệnh và vệ sinh thực phẩm. Giá trị sản xuất của ngành sản xuất chế biến thủy sản tăng bình quân 11,53%/năm giai đoạn 2016 - 2020, năm 2020 chiếm tỷ trọng 27,64% so với giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, chiếm 1,19% GRDP toàn tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu hàng thủy sản tăng bình quân 1,59%/năm giai đoạn 2016 - 2020, năm 2020 chiếm tỷ trọng 5,54% so với kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.

1.3. Ngành công nghiệp hỗ trợ:

Trên địa bàn tỉnh có khoảng 18 dự án ngành công nghiệp hỗ trợ các ngành dệt may, da giày, điện tử - tin học, cơ khí chế tạo, sản xuất lắp ráp ô tô… với tổng vốn đầu tư 3.786, 5 tỷ đồng. Giá trị sản xuất công nghiệp hỗ trợ tăng bình quân 9,04%/năm giai đoạn 2016 - 2020, năm 2020 chiếm 27,77% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.

1.4. Ngành năng lượng:

Bến Tre có nhiều tiềm năng phát triển các dự án năng lượng như: năng lượng tái tạo, năng lượng sinh khối, năng lượng khí sinh học…Trong đó, các dự án năng lượng tái tạo (chủ yếu là điện gió, mặt trời) đang thu hút sự quan tâm đầu tư của các doanh nghiệp. Hiện tại, trên địa bàn tỉnh có 06 dự án điện gió đang triển khai xây dựng (giai đoạn 1), với tổng công suất 179,7MW, dự án điện gió khác đã được phê duyệt bổ sung quy hoạch, với tổng công suất gần 7.000 MW và 02 dự án điện khí (LNG), với tổng công suất 7.000MW vào Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2045.

1.5. Các ngành công nghiệp khác:

Ngành dệt may, da giày: Giá trị sản xuất công nghiệp tăng trưởng bình quân 18,85%/năm giai đoạn 2016 - 2020, năm 2020 chiếm tỷ trọng 22,92% so với giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 19,22%/năm giai đoạn 2016 - 2020, năm 2020 chiếm tỷ trọng 48,2% so với kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh;

Ngành cơ khí - điện, điện tử: Giá trị sản xuất công nghiệp tăng bình quân 15,08%/năm giai đoạn 2016 - 2020, năm 2020 chiếm tỷ trọng 20,24% so với giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 4,9%/năm giai đoạn 2016 - 2020, năm 2020 chiếm tỷ trọng 15,11% so với kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.

Tuy nhiên thực tế còn nhiều hạn chế trong phát triển các ngành công nghiệp chủ lực tỉnh Bến Tre như ngành dừa quy mô, công nghệ, năng suất còn thấp; tỷ lệ sản phẩm thô, sơ chế còn cao; giá trị tăng thêm không cao. Chất lượng vùng nguyên liệu chưa đồng đều, giá nguyên liệu cao so với khu vực. Ngành chế biến thủy sản chủ yếu chế biến thô, tỷ trọng chế biến sâu thấp. Xây dựng vùng nguyên liệu sạch gặp nhiều khó khăn, chưa hình thành chuỗi giá trị ngành hàng thủy sản. Hậu cần nghề cá chậm phát triển, tổn thất sản phẩm thủy sản sau thu hoạch còn rất lớn (khoảng 30%)…

2. Các mục tiêu hướng tới

2.1. Mục tiêu tổng quát: Kiến tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi. Xây dựng lực lượng doanh nghiệp, doanh nhân lớn mạnh, hình thành nhóm doanh nghiệp dẫn đầu về năng lực sản xuất, kinh doanh trên từng ngành, lĩnh vực, sản phẩm. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp chế biến dừa, thủy sản, năng lượng trở thành những ngành chủ lực của tỉnh, ứng dụng công nghệ hiện đại, chuyên môn hóa cao, tạo sức lan tỏa, thúc đẩy hợp tác, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị.

2.2. Mục tiêu đến năm 2025

Ngành dừa: Giá trị sản xuất tăng bình quân 17,2%/năm, chiếm 17,33% giá trị sản xuất công nghiệp cả tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu tăng 23,58%/năm. Năm 2025, kim ngạch xuất khẩu 1.000 triệu USD, chiếm 38,46% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Ngành thủy sản: Giá trị sản xuất tăng bình quân 16,79%/năm, chiếm 26,67% giá trị sản xuất công nghiệp cả tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân 72,64%/năm. Năm 2025 kim ngạch xuất khẩu 1.200 triệu USD, chiếm 46,15% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Ngành công nghiệp hỗ trợ: giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân 13,36%/năm, chiếm tỷ trọng 23,29% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.

Ngành năng lượng tái tạo: Phát triển ít nhất 1.500MW điện tái tạo, giá trị sản xuất từ điện 15% so với giá trị sản xuất công nghiệp. Chuẩn bị điều kiện triển khai điện khí hóa lỏng (LNG) tại Bến Tre. Hoàn chỉnh hạ tầng lưới điện truyền tải 220KV, 500KV kết nối địa bàn 3 huyện biển, đảm bảo giải phóng công suất các dự án năng lượng tái tạo trên địa bàn.

2.3. Mục tiêu đến năm 2030

Ngành dừa: Giá trị sản xuất tăng từ 15,74%/năm, chiếm 15% giá trị sản xuất công nghiệp cả tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu tăng 14,87%/năm, đạt khoảng 2.000 triệu USD, chiếm 33,33% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.

Ngành thủy sản: Giá trị sản xuất tăng từ 17,38%/năm, chiếm 24,76% giá trị sản xuất công nghiệp cả tỉnh. Kim ngạch xuất khẩu tăng bình quân15,81%/năm, đạt khoảng 2.500 triệu USD, chiếm 41,67% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn tỉnh.

Ngành công nghiệp hỗ trợ: giá trị sản xuất tăng trưởng bình quân 14,92%/năm, chiếm tỷ trọng 19,44% giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh.

Ngành năng lượng tái tạo: Phát triển thêm khoảng 1.500MW điện tái tạo, chiếm tỷ lệ khoảng 20% so với giá trị sản xuất công nghiệp toàn tỉnh, xúc tiến triển khai đầu tư dự án điện khí hóa lỏng (LNG) tại Bến Tre.

3. Nhiệm vụ trọng tâm phát triển

3.1. Ngành doanh nghiệp chế biến dừa:

Thứ nhất, tập trung đầu tư nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, đến năm 22035 có khoảng 50 sản phẩm sản xuất từ dừa được xuất khẩu sang thị trường các nước; xúc tiến mời gọi đầu tư các dự án chế biến sâu, đa dạng hóa các sản phẩm giá trị gia tăng cao, có hàm lượng khoa học công nghệ, tham gia tốt vào chuỗi sản xuất - cung ứng toàn cầu, áp dụng rộng rãi công nghệ thông tin, kỹ thuật hiện đại trong quản lý và sản xuất.

Thứ hai, điều chỉnh quy hoạch, phát triển vùng trồng dừa tập trung, quy mô lớn, đảm bảo chất lượng để cung ứng nguyên liệu cho chế biến, trong đó tập trung phát triển diện tích dừa nguyên liệu hữu cơ đến năm 2025 đạt khoảng 30% diện tích, đến năm 2030 đạt khoảng 50% diện tích dừa của tỉnh. Tập trung đầu tư tốt cho công tác tuyển chọn, nhân giống dừa đạt tiêu chuẩn chất lượng cao, để cung ứng cho người dân và thị trường. Xây dựng Bến Tre thành trung tâm liên kết sản xuất, chế biến, tiêu thụ dừa của Tiểu vùng Duyên hải phía Đông Đồng bằng sông Cửu Long.

Thứ ba, tiếp tục xây dựng và phát triển hoàn thiện, đồng bộ chuỗi giá trị dừa, đa dạng hóa hình thức hợp tác liên kết chặt chẽ giữa các nhân tố trong chuỗi giá trị, trong đó chủ lực là nông dân và doanh nghiệp; nâng cao chất lượng hoạt động các tổ hợp tác, hợp tác xã là mắt xích quan trọng trong liên kết chuỗi giá trị.

3.2. Ngành công nghiệp chế biến thủy sản: Thu hút được dự án đầu tư chế biến thủy sản xuất khẩu quy mô lớn, công nghệ hiện đại. Quy hoạch, phát triển vùng nuôi tôm tập trung công nghệ cao, quy mô lớn, diện tích đến năm 2025 đạt từ 4 ngàn héc-ta. Bảo quản tốt hải sản đánh bắt. Khai thác tối đa chính sách ưu đãi từ các hiệp định thương mại tự do, nhất là Hiệp định CPTPP, EVFTA, RCEP… để mở rộng thị trường xuất khẩu các mặt hàng thủy sản chế biến.

3.3. Ngành công nghiệp hỗ trợ: Tập trung thu hút các doanh nghiệp đầu tư phát triển công nghiệp hỗ trợ thuộc các lĩnh vực chủ yếu: Công nghiệp hỗ trợ dệt may, da giầy, cơ khí chế tạo hỗ trợ ngành chế biến nông, thủy sản, thực phẩm, năng lượng, hướng đến tăng tỷ lệ nội địa hóa hàng chế biến xuất khẩu đảm bảo quy định về quy tắc xuất xứ hàng hóa, nâng cao tính chủ động trong sản xuất và khả năng cạnh tranh của sản phẩm; hỗ trợ doanh nghiệp nghiên cứu phát triển sản phẩm mới, chuyển giao công nghệ và ứng dụng công nghệ mới.

3.4. Ngành năng lượng: Triển khai thực hiện các dự án điện gió theo đúng tiến độ cam kết, phấn đấu đến năm 2025 có từ 1.500MW phát điện; xúc tiến quy trình bổ sung quy hoạch, tuyển chọn nhà đầu tư và triển khai thực hiện Dự án điện khí hóa lỏng (LNG). Xây dựng cải tạo, nâng cấp, phát triển mới lưới điện cao - trung thế, hạ thế, đảm bảo truyền tải, cung cấp nguồn điện ổn định, an toàn cho phát triển kinh tế - xã hội, nhất là sản xuất công nghiệp.

 

Trương Thị Quỳnh Vân

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOIT

 

TIN KHÁC