NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong quý I năm 2021

Mặc dù phải đối mặt với nhiều khó khăn do diễn biến phức tạp của dịch Covid-19, tình trạng thiếu container rỗng, chi phí vận chuyển tăng cao… nhưng hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam trong quý I/2021 vẫn ghi nhận mức tăng trưởng cao so với cùng kỳ năm 2020, ước tính đạt 152,65 tỷ USD, tăng 24,1% so với cùng kỳ năm trước, trong đó kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 77,34 tỷ USD, tăng 22%; nhập khẩu hàng hóa đạt 75,31 tỷ USD, tăng 26,3%. Cán cân thương mại hàng hóa quý I/2021 ước tính xuất siêu 2,03 tỷ USD.

1. Kim ngạch xuất khẩu hàng hóa

Về kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3/2021 ước đạt 28,6 tỷ USD, tăng 41,6% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 6,79 tỷ USD, tăng 44,8%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 21,81 tỷ USD, tăng 40,7%.

So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 3 tăng 19,2%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 5,3%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 24,2%.

Tính chung quý I/2021, kim ngạch hàng hóa xuất khẩu ước tính đạt 77,34 tỷ USD, tăng 22% so với cùng kỳ năm 2020, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 18,3 tỷ USD, tăng 4,9%, chiếm 23,7% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 59,04 tỷ USD, tăng 28,5%, chiếm 76,3%.

Trong quý I/2021 có 11 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 76,6% tổng kim ngạch xuất khẩu (4 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 54,7%), trong đó điện thoại và linh kiện có giá trị xuất khẩu lớn nhất đạt 14,1 tỷ USD, chiếm 18,2% tổng kim ngạch xuất khẩu, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm trước; điện tử, máy tính và linh kiện đạt 12 tỷ USD, tăng 31,3%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 9,1 tỷ USD, tăng 77,2%; hàng dệt may đạt 7,2 tỷ USD, tăng 1,1%; giày dép đạt 4,7 tỷ USD, tăng 13,5%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 3,7 tỷ USD, tăng 41,5%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 2,7 tỷ USD, tăng 20%; sắt thép đạt 1,8 tỷ USD, tăng 65,2%; thủy sản đạt 1,7 tỷ USD, tăng 3,3%; xơ, sợi dệt đạt 1,2 tỷ USD, tăng 31%; sản phẩm chất dẻo đạt 1,1 tỷ USD, tăng 31%. Nhìn chung, tỷ trọng xuất khẩu của một số mặt hàng chủ lực vẫn thuộc về khu vực có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và khối các ngành có doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, trong đó: Điện thoại và linh kiện chiếm 99,1%; điện tử, máy tính và linh kiện chiếm 98%; máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 93,1%; giày dép chiếm 81,9%; hàng dệt may chiếm 62,5%.

Về xuất khẩu các nhóm hàng

- Kim ngạch xuất khẩu nhóm nông, lâm, thuỷ sản:  Kim ngạch xuất khẩu tháng 3/2021 ước đạt 2,3 tỷ USD, tăng 58,3% so với tháng 02/2021 và tăng 4,8% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 8,1% tổng kim ngạch xuất khẩu.

Tính chung 3 tháng đầu năm, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này ước đạt 5,97 tỷ USD, tăng 6,6% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 7,73% tổng kim ngạch xuất khẩu. Những mặt hàng tăng trưởng cao trong nhóm này gồm có cao su tăng 89,7% về lượng và tăng 16,5% về kim ngạch; sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 40,3% về lượng và tăng 53,2% về kim ngạch. Bên cạnh đó, kim ngạch xuất khẩu thủy sản và rau quả cũng tăng 3,3% và 6,1% so với quý I/2020, đạt 1,69 tỷ USD và 944 triệu USD. Ngược lại, xuất khẩu hạt điều tăng 13,2% về lượng nhưng giảm 5,8% về kim ngạch so với quý I/2020; cà phê giảm 17% về lượng và giảm 11,3% về kim ngạch; hạt tiêu giảm 25% về lượng và giảm 1,3% về kim ngạch.

Gạo là mặt hàng giảm mạnh nhất khi giảm 30,4% về lượng và giảm 17,4% về kim ngạch so với quý I/2020, đạt 1,1 triệu tấn, kim ngạch 606 triệu USD. Xuất khẩu gạo giảm trong quý I/2021 được nhận định chủ yếu là do nguồn cung từ vụ Đông Xuân ra thị trường chưa nhiều, trong khi đó giá gạo ở mức cao cũng khiến các nhà nhập khẩu có tâm lý chờ giá giảm.

Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến tháng 3/2021 ước đạt 24,76 tỷ USD, tăng 39,7% so với tháng 02/2021 và tăng 20,7% so với cùng kỳ năm 2020.

Tính chung 3 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng công nghiệp chế biến tiếp tục đóng góp chính vào tốc độ tăng trưởng chung của hoạt động xuất khẩu trong quý I/2021 với kim ngạch đạt 67,39 tỷ USD, tăng mạnh 24,8% so với quý I/2020 và chiếm 87,13% trong tổng kim ngạch xuất khẩu chung.

Nhìn chung kim ngạch xuất khẩu hầu hết các mặt hàng trong nhóm công nghiệp chế biến đều tăng trưởng cao so với quý I/2020. Trong đó, điện thoại các loại và linh kiện đạt kim ngạch cao nhất, đạt 14,08 tỷ USD, tăng 9,3% so với cùng kỳ năm 2020. Kế đến, kim ngạch xuất khẩu máy tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 11,96 tỷ USD, tăng 31,3% so với cùng kỳ năm 2020. Ngoài ra, máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đã vượt qua dệt may để vươn lên vị trí thứ 3 về mặt hàng có kim ngạch xuất khẩu lớn nhất của nước ta, tăng tới 77,2% so với quý I/2020, đạt 9,1 tỷ USD. Đồng thời, kim ngạch xuất khẩu của một số mặt hàng khác cũng tăng mạnh so với quý I/2020 như: Gỗ và sản phẩm gỗ tăng 41,5%; phương tiện vận tải và phụ tùng tăng 20%; sắt thép các loại tăng 65,2%... Đặc biệt, xuất khẩu nhóm hàng dệt và may mặc cũng tăng trở lại dù tốc độ còn khá khiêm tốn so với các mặt hàng khác, với mức tăng 1,1%, đạt 7,18 tỷ USD; kim ngạch xuất khẩu giày dép các loại tăng mạnh hơn, tăng 13,5% so với quý I/2020, ước đạt 4,74 tỷ USD.

Kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu khoáng sản tăng 70,1% so với tháng 2/2021 và tăng 8,6% so với tháng 3/2020, đạt 284 triệu USD. Trong nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản, xuất khẩu dầu thô dù giảm 22,8% về lượng nhưng tăng tới 39,5% về kim ngạch so với tháng 3/2020; tương tự, xuất khẩu than đá cũng tăng 149,2% về lượng và 103,5% về kim ngạch. Tuy nhiên, tính chung quý I/2021, kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản giảm mạnh 47,3% so với cùng kỳ năm 2020 với sự sụt giảm chủ yếu ở mặt hàng dầu thô và xăng dầu (lần lượt giảm 54% và 50%).

- Về thị trường xuất khẩu hàng hóa quý I/2021: Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 21,2 tỷ USD, tăng 32,8% so với cùng kỳ năm trước; tiếp đến là Trung Quốc đạt 12,5 tỷ USD, tăng 34,3%; thị trường EU đạt 9,9 tỷ USD, tăng 18%; thị trường ASEAN đạt 6,7 tỷ USD, tăng 5,7%; Hàn Quốc đạt 5 tỷ USD, tăng 6,4%; Nhật Bản đạt 4,9 tỷ USD, giảm 1,5%.

2. Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 03/2021 ước tính đạt 28,2 tỷ USD, tăng 36,5% so với tháng trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 9,45 tỷ USD, tăng 40,1%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 18,75 tỷ USD, tăng 34,8%. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 3 tăng 27,7%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 19%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 32,6%.

Tính chung quý I/2021, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước tính đạt 75,31 tỷ USD, tăng 26,3% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 25,05 tỷ USD, tăng 17%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 50,26 tỷ USD, tăng 31,5%.

Về cơ cấu hàng hóa nhập khẩu: chiếm 87,76% tổng kim ngạch hàng hóa nhập khẩu của Việt Nam trong quý I/2021 là nhóm hàng cần nhập khẩu (nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất trong nước) với kim ngạch đạt 66,1 tỷ USD, tăng 26% so với cùng kỳ năm 2020.

Trong đó, kim ngạch nhập khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt cao nhất, đạt 16,8 tỷ USD, tăng 22% so với quý I/2020. Tương tự, kim ngạch nhập khẩu các mặt hàng khác cũng ghi nhận mức tăng cao như: Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 30,7% so với quý I/2020, đạt 10,8 tỷ USD; điện thoại các loại và linh kiện tăng 48,1%, đạt 4,86 tỷ USD; chất dẻo nguyên liệu tăng 39,3%; vải các loại tăng 9,2%; nguyên phụ liệu dệt, may, da giày tăng 13%; hóa chất tăng 29,1%... Trong khi đó, kim ngạch nhập khẩu than đá và dầu thô giảm lần lượt là 6,4% và 50,5% so với cùng kỳ năm 2020.

Kim ngạch nhập khẩu nhóm hàng cần hạn chế nhập khẩu 3 tháng đầu năm 2021 cũng tăng 16,9% so với cùng kỳ năm trước, đạt 4,69 tỷ USD. Trong đó, kim ngạch nhập khẩu rau quả tăng 17,4%, ô tô nguyên chiếc dưới 9 chỗ tăng tăng 8,7% về kim ngạch… so với quý I/2020.

- Về thị trường nhập khẩu hàng hóa quý I năm 2021, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 23,8 tỷ USD, tăng 47,3% so với cùng kỳ năm trước; tiếp theo là Hàn Quốc đạt 13 tỷ USD, tăng 9,9%; thị trường ASEAN đạt 9,7 tỷ USD, tăng 30,9%; Nhật Bản đạt 5,1 tỷ USD, tăng 4,8%; thị trường EU đạt 4,1 tỷ USD, tăng 19,7%; Hoa Kỳ đạt 4 tỷ USD, tăng 13%.

3. Đánh giá chung

Mặc dù chịu ảnh hưởng bởi làn sóng dịch Covid-19 lần thứ 3, nhưng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vẫn duy trì tốc độ tăng trưởng cao 22% trong quý I/2021.  Đồng thời, mức tăng trưởng này cũng tương đối cao so với các nền kinh tế khác trong khu vực châu Á. Cụ thể, trong 2 tháng đầu năm 2021, kim ngạch xuất khẩu của Indonesia tăng 8,56%, Singapore tăng 1,1%, Hàn Quốc tăng 10,5%, Nhật Bản tăng 9%, Thái Lan giảm 1,16%... 

Trong quý I/2021, Việt Nam tiếp tục xuất siêu 2,03 tỷ USD, qua đó hỗ trợ tích cực cho cán cân vãng lai và cán cân thanh toán tổng thể của nền kinh tế. Những kết quả đạt được của hoạt động thương mại trong thời gian qua đã và đang cho thấy những nỗ lực, quyết tâm của Chính phủ và các bộ, ban, ngành trong việc phòng chống dịch bệnh song song với thúc đẩy hoạt động sản xuất kinh doanh.

- Xuất khẩu của khối doanh nghiệp trong nước ghi nhận sự phục hồi trở lại (tăng 4,9% so với cùng kỳ), trong khi khối FDI tiếp tục dẫn dắt đà tăng trưởng chung (tăng 28,5%).

- Trong thời gian tới, hoạt động xuất nhập khẩu được kỳ vọng sẽ tiếp tục khởi sắc nhờ vào sự phục hồi của nền kinh tế thế giới, các Hiệp định thương mại tự do được thực thi một cách đầy đủ và toàn diện hơn, thu hút dòng vốn FDI, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ cao đạt kết quả tích cực… Nhu cầu toàn cầu đang cải thiện khi nền kinh tế thế giới đang bước vào giai đoạn phục hồi nhờ việc triển khai mạnh mẽ tiêm vắc xin Covid-19, cũng như sự hỗ trợ từ chính sách nới lỏng tài khóa và tiền tệ qua đó giúp tăng cường cơ hội thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa. 

Các Hiệp định thương mại thế hệ mới như CPTPP, EVFTA, UKFTA sẽ tiếp tục tạo điều kiện để hàng hóa của Việt Nam thâm nhập vào các thị trường đối tác với thuế quan ưu đãi hơn cùng với những cam kết về tạo thuận lợi giảm thiểu các rào cản. Kể từ khi EVFTA có hiệu lực vào tháng 8/2020, tốc độ tăng trưởng xuất khẩu sang EU đã dần được cải thiện và tăng 18% trong 3 tháng đầu năm 2021. Tương tự, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam sang các đối tác trong Hiệp định CPTPP cũng đạt mức tăng trưởng cao trong 3 tháng đầu năm 2021 như: Canada tăng 13,7%, Australia tăng 17%, Chilê tăng 25,6%, Mexico tăng 12,7%, New Zealand tăng 35,1%...  Kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Anh cũng tăng 22,1% trong 3 tháng đầu năm 2021. Việc tận dụng khá tốt những lợi thế từ các Hiệp định thương mại tự do sẽ là một trong những yếu tố quan trọng thúc đẩy xuất khẩu của Việt Nam trong thời gian tới.

- Cùng với nhu cầu tăng trở lại, giá hàng hóa xuất khẩu cũng đang có xu hướng tăng. Cụ thể, giá xuất khẩu bình quân nhiều mặt hàng tăng khá mạnh so với cùng kỳ năm 2020 như: Gạo tăng 18,6%, đạt 547 USD/tấn; cà phê tăng 6,8%, đạt bình quân 1.801 USD/tấn; chè tăng 10,2%, đạt bình quân 1.604 USD/tấn; cao su tăng 14,1%, đạt bình quân 1.660 USD/tấn; sắn và các sản phẩm từ sắn tăng 9,3%. Đặc biệt, giá hạt tiêu tăng mạnh nhất, tăng tới 31,5%, đạt bình quân 2.879 USD/tấn.

- Tuy nhiên, xuất khẩu hàng hóa Việt Nam vẫn còn gặp nhiều khó khăn, thách thức khi diễn biến dịch Covid-19 trên phạm vi toàn cầu vẫn diễn biến phức tạp cho dù nhiều quốc gia đã đẩy mạnh triển khai chương trình tiêm vắc xin phòng ngừa. Tại châu Âu, nhiều nền kinh tế lớn trong khu vực như Đức, Pháp và Italia tiếp tục phải gia hạn lệnh phong tỏa tại nhiều khu vực trên cả nước trước sự lây lan của dịch Covid-19. Diễn biến gia tăng của dịch Covid-19 có thể khiến việc vận chuyển hàng hóa gặp khó khăn, nhiều chuỗi cung ứng bị gián đoạn, ảnh hưởng tới tình hình xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các nước đối tác.

Trong khi đó, chi phí đầu vào như logistics, nguyên liệu nhập khẩu tăng cao cũng ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất và xuất khẩu của các doanh nghiệp. Tình trạng thiếu container rỗng, chi phí vận chuyển tăng cao khiến nhiều doanh nghiệp xuất nhập khẩu gặp khó khăn. Nhiều doanh nghiệp buộc phải dời kế hoạch xuất hàng cho đơn hàng cũ và chưa thể nhận đơn hàng mới vì không thể giao đúng theo hợp đồng, cản trở việc phục hồi sản xuất của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, thời gian gần đây, các thị trường xuất khẩu nông, thủy sản của Việt Nam liên tục đưa ra những thay đổi trong quy định chứng nhận an toàn thực phẩm. Điều này đã gây ra những khó khăn nhất định cho xuất khẩu nhóm hàng này của Việt Nam. Cụ thể: Bên cạnh Trung Quốc, một số thị trường nhập khẩu cũng đã thay đổi quy định về chứng nhận an toàn thực phẩm nhập khẩu như: Hàn Quốc yêu cầu các nhà xuất khẩu phải có chứng nhận chứng mình rằng các sản phẩm thủy sản không nhiễm virus div1, vius hồ cá rô, virus viêm gan tụy hoại tử, salmonid alphavirus và bệnh hoại tử gan tụy cấp tính. Quy định này sẽ chính thức áp dụng từ ngày 1/8/2021; Đối với thị trường Australia, sản phẩm tôm chưa nấu chín xuất khẩu sang Australia phải được kiểm tra, phân hạng tại cơ sở chế biến được cơ quan thẩm quyền nước xuất khẩu chứng nhận và kiểm soát; không có các dấu hiệu mắc bệnh; mỗi lô tôm sản xuất (sau chế biến) được lấy mẫu xét nghiệm âm tính đối với virus đốm trắng, đầu vàng.../.

Nguồn: Theo báo cáo của Bộ Công Thương

Đỗ Thị Bích Thủy

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến Thương mại - VIOIT

BÀI VIẾT KHÁC