NGHIÊN CỨU

Viện Nghiên cứu Chiến lược, Chính sách Công Thương

Trang chủ >> Nghiên cứu

Công nghiệp và thương mại miền núi vùng cao, biên giới: nhìn từ thực tiễn Sơn La

Sự thay đổi độ cao lớn đã tạo cho các tỉnh biên giới phía Bắc Việt Nam có nhiều tiểu vùng khí hậu, làm tăng tính đa dạng của các sản vật địa phương. Tuy nhiên do địa bàn nhiều nơi bị chia cắt mạnh, với độ dốc thay đổi lớn, trong đó địa hình nghiêng và dốc chiếm phần lớn diện tích đất tự nhiên là yếu tố gây trở ngại lớn đến quá trình phát triển kinh tế hàng hóa của các tỉnh biên giới trên nhiều phương diện khác nhau, như: khó mở rộng quy mô sản xuất - nhất là sản xuất nông nghiệp; làm tăng chi phí vận tải và vận chuyển hàng hóa; làm tăng lượng vốn đầu tư cũng như chi phí ở các khâu của quá trình sản xuất xã hội… Những năm gần đây, trên bình diện cả nước nói chung và biên giới phía Bắc nói riêng, thu nhập của dân cư đã từng bước được cải thiện, thương mại,thị trường đã có bước phát triển, gắn kết với thị trường cả nước. Điều đó có thể thấy rõ qua bức tranh chung về công nghiệp và thương mại tỉnh Sơn La.

Là tỉnh miền núi biên giới có diện tích tự nhiên 14.174 km2. Tỉnh có 01 thành phố, 11 huyện (04 huyện thuộc diện nghèo ), với 65 bản biên giới  1341 bản đặc biệt khó khăn). Vượt qua khó khăn, ngành Công Thương Sơn La đã đạt được những kết quả rất đáng khích lệ, thể hiện rõ nét trên các mặt sau:

1. Thương mại và thị trường khởi sắc

Thị trường hàng hóa Sơn La trong những năm qua phát triển khá nhanh, cân đối cung cầu và lưu thông hàng hóa thông suốt. Hạ tầng thương mại được chú trọng đầu tư, giai đoạn 2016-2020 có 06 chợ (Pá ma pha kinh; chợ trung tâm huyện Sốp cộp; chợ trung tâm xã Mường Chiên; chợ hang Miếng; Chợ trung tâm xã Phiên Khoài; Chợ chiềng mai) được đầu tư xây dựng mới từ chủ yếu từ nguồn vốn ngân sách nhà nước. Ngoài ra 05 siêu thị, 01 trung tâm thương mại (VinCom) được đầu tư xây dựng mới bằng nguồn vốn xã hội hóa. Hệ thống phân phối hàng hóa được mở rộng đến cả các vùng nông thôn, với các phương thức bán hàng văn minh, hiện đại (cửa hàng tự chọn, cửa hàng chuyên doanh, bách hóa tổng hợp, cửa hàng bán lẻ, đại lý,... ) cơ bản đáp ứng được nhu cầu tiêu dùng của người dân góp phần đảm bảo mục tiêu an sinh xã hội...

Tổng mức bán lẻ hàng hóa giai đoạn 2016-2020 tăng bình quân 11,6%/năm. Mạng lưới hạ tầng thương mại của tỉnh ngày càng phát triển đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cho sinh hoạt và sản xuất. Sơn La hiện có 01 trung tâm thương mại, 06 siêu thị và 112 chợ (tỷ lệ xã có chợ đạt 37,2%). Cùng với đó là việc lưu thông hàng hóa trở lên thuận tiện, nhanh chóng và dễ dàng hơn, người dân có thêm nhiều phương thức mua sắm, tiêu dùng hơn thông qua thương mại điện tử, hay mua sắm tại các siêu thị, trung tâm thương mại, cửa hàng tiện ích… trong tỉnh.

Ngay từ năm 2017, công tác lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh tiêu thụ, xuất khẩu nông sản được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị, trong đó xuất khẩu được xác định là khâu đột phá. Các sản phẩm như cà phê, trái cây cây, tinh bột sắn... đã được xuất khẩu ra thị trường 12 nước, giá trị xuất khẩu không ngừng tăng lên, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng giá trị hàng hóa tham gia xuất khẩu của tỉnh. Kim ngạch đạt trung bình 97 triệu USD/năm trong giai đoạn 2016-2020. Các sản phẩm xuất khẩu chủ yếu: Cà phê sang thị trường Đức, Mỹ, Ấn Độ...; Chè  sang thị trường Đài Loan, Pakistan, Apganistan, UAE, Nhật Bản, Trung Quốc; Tinh bột sắn sang thị trường Trung Quốc; Xi măng sang thị trường Trung Quốc, Lào; Điện thương phẩm xuất khẩu sang Lào; Tơ tằm xuất khẩu sang Ấn Độ.

2. Xúc tiến thương mại, hỗ trợ, kết nối chuỗi liên kết tiêu thụ nông sản tạo ra nhiều đột phá

Công tác lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh tiêu thụ nông sản được xác định là nhiệm vụ trọng tâm của cả hệ thống chính trị. Giai đoạn 2016-2018, Sơn La đã hình thành các chuỗi liên kết giữa sản xuất với chế biến và tiêu thụ sản phẩm, liên kết giữa hộ nông dân - HTX - doanh nghiệp. Xuất khẩu được xác định là khâu đột phá, tác động trực tiếp thúc đẩy tiêu thụ trong nước, trong tỉnh, định hướng sản xuất nông nghiệp đáp ứng nhu cầu của thị trường.

Sự hỗ trợ hiệu quả của các Bộ, ngành Trung ương, các tỉnh bạn (Lào Cai, Lạng Sơn, Hà Nội, Thanh Hóa, Hải Phòng, Quảng Ninh…), các cơ quan thông tấn báo chí trong và ngoài tỉnh, các doanh nghiệp có kinh nghiệm, có đối tác thị trường (Công ty TNHH Agricare Việt Nam, Công ty cổ phần nông lâm nghiệp Cánh đồng vàng, Công ty cổ phần thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao, Công ty TNHH TMDV&XNK Vina T&T, công ty CP Phong Trang, Công ty TNHH MTV Thanh Tùng,…) góp phần quan trọng vào thực hiện thành công kế hoạch tiêu thụ, xuất khẩu nông sản.

Hoạt động xúc tiến thương mại đã phát huy hiệu quả thiết thực góp phần quan trọng đưa số mặt hàng nông sản của tỉnh tham gia xuất khẩu đạt con số 16 vào thị trường 12 nước. Nông sản cũng đã xâm nhập được vào chuỗi phân phối của các siêu thị lớn như BigC, Lotte, Hapro,VinMart. Sản phẩm nông sản an toàn của Sơn La từng bước tạo dựng được uy tín, thương hiệu trên thị trường trong nước và nước ngoài, được người tiêu dùng ưa chuộng và đánh giá cao về chất lượng.

3. Công nghiệp chuyển biến mạnh mẽ, phát huy lợi thế cạnh tranh

Nhìn chung trong 05 năm vừa qua, Sơn La đã tập trung phát triển những ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh và có ý nghĩa chiến lược đối với tăng trưởng nhanh, bền vững; lựa chọn sản phẩm chủ yếu của ngành công nghiệp chủ lực để ưu tiên phát triển, cơ cấu lại; phát triển công nghiệp chế biến, chế tạo, tăng mạnh năng suất nội bộ ngành, tăng hàm lượng công nghệ và tỉ trọng giá trị nội địa trong sản phẩm.

Các ngành công nghiệp của tỉnh phát triển gắn chặt với tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Công nghiệp chế biến từng bước phát triển theo hướng từ sơ chế sang chế biến sâu, đa dạng về chủng loại, chất lượng ngày càng được nâng cao, gắn kết vùng nguyên liệu chuyên canh với các nhà máy chế biến đang hoạt động có hiệu quả (*). Sản xuất vật liệu xây dựng đáp ứng cơ bản nhu cầu xây dựng trong tỉnh,chất lượng sản phẩm ngày càng được nâng cao, từng bước mở rộng thị trường xuất khẩu. Sản xuất và phân phối điện duy trì ổn định, đáp ứng nhu cầu điện cho sản xuất, sinh hoạt trong tỉnh, kết nối với lưới điện quốc gia. Giai đoạn 2016-2020 đầu tư mới và nâng cấp, cấp điện cho trên 52.000 hộ dân, đạt chỉ tiêu đề ra. Đến năm 2020 tỷ lệ số hộ được sử dụng điện 97,5%.

Hệ thống cơ sở công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp được hình thành và phát triển với 3.300 cơ sở (trong đó có 140 doanh nghiệp, 18 HTX, còn lại là hộ cá thể). Lực lượng lao động trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp đạt trên 15.900 lao động (năm 2019). Hạ tầng các cụm công nghiệp, khu công nghiệp đang từng bước đầu tư hoàn thiện. Toàn tỉnh hiện có 1 khu công nghiệp (KCN Tà Sa - Mai Sơn) và 3 cụm công nghiệp (CCN Mộc Châu, CCN Gia Phù, Quang Huy - Phù Yên) đã đi vào hoạt động.

Giá trị sản xuất công nghiệp trên địa bàn (theo giá so sánh) đạt tốc độ tăng bình quân/năm giai đoạn 2016-2020 là 8,7%. Giá trị sản xuất công nghiệp địa phương (không tính giá trị thủy điện) năm 2020 ước đạt 7.780 tỷ đồng. Công nghiệp khai khoáng đạt tốc độ tăng trưởng bình quân giai đoạn 2016-2020 là 36,16 %; Công nghiệp chế biến chế tạo 10,17%; Công nghiệp sản xuất phân phối điện, nước là 24,14%.

Nhìn chung trong 05 năm qua, Sơn La đã đạt được những thành tựu đáng kể về phát triển kinh tế - xã hội nói chung và Công nghiệp - Thương mại nói riêng.

Công nghip đã xác định được định hướng phát triển một cách rõ nét hơn, tập trung khai thác các tiềm năng, thế  mạnh về thủy điện, nguồn nhân lực, nguồn nguyên liệu sản phẩm nông nghiệp. Cơ cấu sản xuất công nghiệp dịch chuyển theo hướng chuyên môn hóa, hiện đại hóa, chuyển dần từ chế biến thô sang chế biến sâu. Các công trình công nghip mi đưc xây dng đang dn phát huy hiu qu như chế biến nông lâm sn, sn xut vt liu xây dng, khai thác khoáng sn, các công trình thu đin nh... lực lượng lao động công nghiệp ngày càng được quan tâm nâng cao về số lượng, trình độ kỹ thuật, tay nghề. Hot đng công nghip ngoài quc doanh đã phát huy đưc thế mnh. Mi liên kết gia các ngành nông lâm công nghip, dch v ca tnh đã chuyn dch theo hưng hình thành chui liên kết, sn phm ngày càng đt tiêu chun, đa dng v chng loi, mu mã.

Thương mi đã góp phần quan trọng hình thành một th trưng ngày càng đa dng và phong phú vi s tham gia ca nhiu thành phn kinh tế. Nhng nhu cu cơ bn v hàng hoá và dch v phc v cho sn xut, đi sng ca dân cư trong Tnh (k c vùng sâu, vùng xa) đã đưc đáp ng, giá c tương đi n đnh. Hạ tầng thương mại được chú trọng đầu tư, nâng cấp, mở rộng xây mới từ nguồn ngân sách nhà nước và nguồn vốn xã hội hóa. Hoạt động tiêu thụ nông sản đã triển khai đồng bộ trên cả 3 thị trường (trong tỉnh, trong nước và xuất khẩu).

Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đã đạt được, công nghiệp thương mại vẫn còn những mặt tồn tại, khó khăn vướng mắc sau:

- Sản xuất công nghiệp chưa tương xứng với tiềm năng; chất lượng lao động tại một số cơ sở còn hạn chế, quy mô sản xuất còn nhỏ, năng lực cạnh tranh của một số doanh nghiệp chưa đạt mặt bằng chung của cả nước và khu vực; một số sản phẩm công nghiệp còn gặp khó khăn trong tiêu thụ.

- Công nghiệp chủ yếu quy mô nhỏ. Các hot đng sn xut tiu th công nghip nh l, k thut đơn gin, công nghip nông thôn manh mún, nh bé.

- Công nghiệp khai khoáng và chế biến khoảng sản đang gặp nhiều rào cản; giá thành trong nước cao hơn so với giá thị trường thế giới.

- Vùng nguyên liệu tiêu thụ và xuất khẩu còn phân tán, số lượng diện tích được cấp mã vùng trồng, sản xuất đảm bảo tiêu chuẩn an toàn (VietGap, GlobalGap) còn thấp so với tổng diện tích; khâu thu hoạch, bảo quản, sơ chế, nhãn, mác phục vụ xuất khẩu tuy đã được cải thiệu nhưng vẫn còn hạn chế; chi phí vận chuyển cao.

- Công tác kết nối giữa các doanh nghiệp xuất khẩu với các đơn vị thu gom còn bất cập trong triển khai hợp đồng tiêu thụ. Kết quả xuất khẩu thông qua hệ thống chuỗi siêu thị còn hạn chế.

4. Hướng đi và giải pháp trong những năm tới

Với mục tiêu đặt ra là thương mại phải trở thành đòn bẩy phát triển kinh tế, là động lực cho phát triển nông nghiệp, nông thôn, giai đoạn 2021-2025 tập trung xây dựng và phát triển thương mại nội địa theo hướng hiện đại, chú trọng phát triển thương mại điện tử với sự tham gia của các thành phần kinh tế. Đẩy mạnh kết nối tiêu thụ sản phẩm, lấy xuất khẩu làm động lực thúc chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Tiếp tục duy trì các sản phẩm xuất khẩu có lợi thế cạnh tranh, đẩy mạnh các dịch vụ hỗ trợ xuất khẩu đồng thời từng bước phát triển các sản phẩm xuất khẩu qua chế biến, có giá trị gia tăng cao hơn. Song song với đó, đẩy mạnh phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, trọng tâm là công nghiệp điện, sản xuất dược liệu, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sử dụng nhiều lao động. Phát triển rộng khắp các cơ sở sản xuất công nghiệp vừa và nhỏ. Chú trọng phát triển các ngành nghề, làng nghề truyền thống và thủ công mỹ nghệ ở các vùng nông thôn để giải quyết việc làm, thúc đẩy nhanh công nghiệp hoá nông thôn. Sơn La cần chú trọng các giải pháp sau :

i. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu,phát triển các ngành công nghiệp có lợi thế

Lựa chọn một số ngành công nghiệp để ưu tiên phát triển theo hướng: khai thác, phát huy được tiềm năng, lợi thế của địa phương; có khả năng tham gia sâu vào mạng sản xuất và chuỗi giá trị, có ý nghĩa nền tảng, có tác động lan tỏa cao đến các ngành kinh tế khác; sử dụng các công nghệ sạch, công nghệ sinh học thân thiện môi trường, tạo ra giá trị gia tăng cao; tạo nhiều việc làm cho lao động địa phương. Định kỳ đánh giá hiệu quả việc lựa chọn các ngành công nghiệp ưu tiên để có điều chỉnh cho phù hợp. Tổ chức triển khai thực hiện tốt các chính sách hỗ trợ đang thực hiện, rà soát bổ sung các cơ chế phù hợp với thực tế và khả năng nguồn lực của tỉnh.

Xây dựng và công khai danh mục dự án thu hút đầu tư vào lĩnh vực công thương, đồng thời đẩy mạnh công tác xúc tiến đầu tư, XTTM để thu hút các nhà đầu tư có tiềm năng vào lĩnh vực sản xuất công nghiệp – thương mại.

ii. Tiếp tục tạo ra các đột phá về thương mại và thị trường

Khai thác triệt để thị trường tiêu thụ trên địa bàn tỉnh, trong nước, phát huy lợi thế so sánh của tỉnh để sản xuất hàng hóa phục vụ xuất khẩu.

Hỗ trợ cho doanh nghiệp về thông tin thị trường, tham gia các hội chợ, trong nước và quốc tế thông qua tổ chức các cuộc hội thảo, triển lãm... để giới thiệu sản phẩm của tỉnh.

Khuyến khích các doanh nghiệp ký hợp đồng với nông dân sản xuất, chế biến và tiêu thụ sản phẩm nông, lâm, thuỷ sản; đầu tư cơ sở hạ tầng ở vùng nguyên liệu, phối hợp các hoạt động khuyến nông, chuyển giao giống và kỹ thuật mới... theo các chính sách của tỉnh.

Để thực hiện có hiệu quả kế hoạch về phát triển công nghiệp và thương mại 5 năm 2021-2025, Ngành sẽ triển khai rà soát, điều chỉnh các quy hoạch cho phù hợp với thực tế; tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo; xây dựng cơ chế khuyến khích phù hợp để môi trường thuận lợi trong thu hút đầu tư, sản xuất và kinh doanh trên địa bàn;

Vốn Ngân sách Nhà nước cấp ưu tiên cho công tác quy hoạch phát triển; hỗ trợ đầu tư cho các dự án theo chính sách thu hút đầu tư, chính sách khuyến công, các chương trình công nghiệp trọng tâm của tỉnh; đào tạo nghề, phát triển hạ tầng và hỗ trợ kinh phí xử lý môi trường trong các khu, cụm điểm công nghiệp.

iii. Phát triển nguồn nhân lực có chất lượng

Sắp xếp, cơ cấu lại, đổi mới và nâng cao chất lượng các cơ sở đào tạo của tỉnh nhằm từng bước tạo nguồn nhân lực có khả năng tiếp cận các công nghệ sản xuất mới. Định hướng, hỗ trợ dịch chuyển lao động nông nghiệp sang lao động công nghiệp - thương mại. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ doanh nhân có trình độ chuyên môn cao, kỹ năng quản lý, quản trị hiện đại, có đạo đức kinh doanh và tinh thần trách nhiệm đối với quốc gia, dân tộc, địa phương.

Vũ Huy Hùng

Phòng Thông tin, Thư viện và Xúc tiến thương mại - VIOIT


[*] Ngành công nghiệp chế biến có sự gia tăng khá nhanh về quy mô, số lượng: Trong giai đoạn 2016-2020, tiếp tục duy trì ổn định sản xuất kinh doanh của các cơ sở chế biến hiện có: trên 20 cơ sở chế biến chè (sản lượng 9,5 tấn/năm); 01 nhà máy đường (sản lượng trung bình 60.000 tấn/năm); nhà máy chế biến tinh bột sắn (60.000 tấn/năm); 07 cơ sở sản xuất cà phê nhân; nhà máy dâu tằm tơ (12 tấn tơ/năm) và thu hút đầu tư thêm nhiều nhà máy như: Nhà máy chế biến sâu tinh chế cà phê từ sản phẩm cà phê Sơn La (công suất 20.000 tấn quả tươi/1 vụ tương ứng 5.000 tấn cà phê nhân); Nhà máy chế biến tinh bột sắn của Cty CP chế biến nông sản BHL (công suất 200 tấn tinh bột/ngày); Nhà máy chanh leo, rau củ quả xuất khẩu của Công ty CP Nafoods Tây Bắc tại Mộc Châu; Nhà máy chế biến rau quả và đồ uống công nghệ cao của Công ty CP chế biến thực phẩm công nghệ cao - Tập đoàn TH tại huyện Vân Hồ (công xuất 18.000-20.000 chai/giờ); Nhà máy chế biến bảo quản nông sản công nghệ cao của Công ty SI Vân Hồ tại Vân Hồ (công suất 1.800 tấn rau tươi /năm); Nhà máy chế biến mủ cao su của công ty CP cao su Sơn La tại huyện Thuận Châu  (công suất 9.000 tấn/năm); Nhà máy chế biến tinh dầu sả và tinh dầu quế của HTX Phú Sơn tại huyện Mường La; Nhà máy chế biến của Công ty CP thực phẩm xuất khẩu Đồng Giao…

BÀI VIẾT KHÁC